+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2/6 đầuđầu 1 2 3 4 ... cuốicuối
kết quả từ 16 tới 30 trên 89

Ðề tài: 20 danh thủ bóng đá thế giới.

  1. #1
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10

    20 danh thủ bóng đá thế giới.

    Tớ có quyển sách"20 danh thủ bóng đá thế giới" nói về cuộc đời sự nghiệp của những cầu thủ vĩ đại thập niên 90.Tiện post cho mọi người xem( có thêm 1 chút chỉnh sửa và hình ảnh)Rất tiếc là chỉ tính đến thời điểm năm 2003 thôi
    thay đổi nội dung bởi: stillo, 11-24-2006 lúc 10:29 AM

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  2. # ADS
    Redcafe Circuit advertisement
    Tham gia ngày
    Always
    Nơi Cư Ngụ
    Advertising world
    Bài gởi
    Many
     
  3. #16
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Paolo Maldini - Pháo đài thép Milano

    Nếu bạn có hỏi bất cứ ai trên đất Italia “hậu vệ nào là xuất sắc nhất” thì câu trả lời đó là Paolo Maldini. Sau Baresi, anh là một tượng đài, là thủ lĩnh xuất sắc nhất trong hàng thủ, là một khối “bê tông” không thể bị khoan thủng của đoàn quân “màu thiên thanh”.

    Nhắc đến Paolo Maldini là người ta nhắc đến một tượng đài của bóng đá Italia, một mẫu cầu thủ với khả năng chơi bóng tuyệt vời và khuôn mặt đẹp mê hồn. Là đội trưởng đội tuyển Italia và CLB AC Milan, Maldini là một siêu sao với những vai trò vô cùng quan trọng trên sân cỏ cũng như ngoài đời, một cầu thủ của những danh hiệu
    .

    Cho đến tận bây giờ khi đã sắp bước sang tuổi 35 và có một tấm danh thiếp khác thường và một bảng thành tích làm kinh ngạc ngay cả những cầu thủ xuất sắc ở độ tuổi 20, Paolo vẫn say sưa kể về những năm tháng đáng nhớ của tuổi thơ với trái bóng tròn trong chân.

    Sinh ngày 26/6/1968 tại Milano, trung tâm thời trang thế giới, trong một gia đình giàu truyền thống về thể thao. Cha anh, ông Cesare Maldini, thủ quân của AC Milan trong những năm 60, là một hậu vệ kỳ tài. Thế nên, ngay từ khi còn nhỏ sự nổi tiếng của cha đã ảnh hưởng rất lớn đối với cậu bé. Anh nhớ lại: “Tôi luôn mơ ước có một ngày thành một cầu thủ xuất sắc như cha tôi, dẫu rằng tôi biết rất ít về sự nghiệp của ông.”

    Với tài năng thiên bẩm, cậu bé Paolo đã nhanh chóng biến niềm say mê của mình thành sự thực. Hàng ngày, cậu vui chơi với trái bóng cùng chú gà con trên sân cỏ ngay sát sân bay Linate.

    Tốc độ tuyệt vời của cậu nhất là khi có bóng trong chân gợi lên sự thán phục của người cha: “Bao giờ tôi cũng tin ở cậu bé. Tôi tin chắc nó sẽ trở thành một danh thủ”. Thế nhưng, theo Maldini thì cha anh chưa bao giờ truyền thụ cho anh lối đá của ông. Có lẽ vì thế mà mặc dù cũng là một hậu vệ nhưng lối đá của anh khác rất nhiều so với cha.

    Phẩm chất và sức mạnh của Paolo đã lọt vào mắt những chuyên gia săn lùng tài năng của AC Milan. Ngay lập tức cậu bé được đưa tới trung tâm huấn luyện và đào tạo cầu thủ trẻ của Milan. Tại đây, cậu bé đã vượt qua những bài tập trong giáo trình huấn luyện một cách xuất sắc và bắt đầu hình thành những phẩm chất của một hậu vệ cừ khôi.

    Vào một buổi sáng, Nils Liedholm, huấn luyện viên của AC Milan, một cầu thủ mà tên tuổi đã gắn liền với CLB, báo tin cho ông Cesare hay là Paolo sẽ bắt đầu chơi cho đội bóng của ông.

    Ông nhớ lại: “Tôi đã biết là mình không lầm, nhưng phía trước còn rất nhiều khó khăn sẽ đến với ***** bé”. Còn Maldini thì xác nhận: “Người ta bảo tôi được che chở, nhưng người ta không thể hiểu rằng không ai có thể giúp đỡ được một cầu thủ, chính anh ta phải giúp mình. Từ nay, dưới con mắt mọi người, tôi không phải là con trai của Cesare Mildini, mà chính tôi mới là người cha của Paolo Maldini”.

    16 tuổi, Paolo Maldini khởi đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình tại AC Milan. Chủ nhật 20-1-1985, một buổi chiều lạnh giá và đáng nhớ, Milan đối đầu với Udinese trên sân khách, một bất ngờ lớn đã diễn ra. Paolo nhớ lại: “Tôi đang ngồi ở đường biên và chẳng nghĩ tới chuyện được vào sân thi đấu.

    Nhưng Battistini đã bị thương và HLV Liedholm yêu cầu tôi khởi động khi tôi chưa kịp buộc dây giày cũng như lắp cái che ống chân!”. 16 tuổi với hình dáng hãy còn mảnh dẻ và Maldini đã lao vào cuộc thử lửa.

    Trước mặt anh là Salvaggi, con cáo già không để cho anh phải tính toán: “Khi thấy anh ta vào sân, tôi đã tiến tới sát cạnh để gây ấn tượng. Tôi cho rằng một cầu thủ nhãi ranh không có thể gây vấn đề gì với tôi".

    Nhưng ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên, đòn chặn bóng của anh ta đã quật ngã tôi. Tôi nói với anh ta: “Làm trò gì đấy, nhóc?”. Anh ta chẳng thèm nhìn tôi và hiểu ngay anh ta sẽ còn tiến khá xa”.

    Sau trận đầu ra mắt, cha anh đã phải thốt lên: “Paolo xuất sắc hơn tôi. Paolo có khả năng sút bóng xuất sắc ở cả hai chân, còn tôi chỉ có một và khi tôi ở độ tuổi 16 tôi chưa đạt được thể lực như Paolo”.

    Năm 1988, Paolo Maldini bắt đầu gặt hái những thành công cùng với AC Milan với một chức vô địch quốc gia. Với sự dẫn dắt của hai thầy phù thủy A. Sacchi và Fabio Capello, AC Milan đã trở thành một thế lực mới của bóng đá châu Âu. Khả năng phòng thủ tuyệt vời và sự năng động, nhiệt tình trong thi đấu đã giúp Maldini luôn được đứng trong đội hình đầy ngôi sao của Milan.


    Anh có thể thi đấu được nhiều vị trí như trung vệ và hậu vệ trái. Cùng với Milan, Maldini đã đoạt thêm 5 Scudetto vào các năm 1992, 93, 94, 96, 99 và siêu cúp Italia vào các năm 1988, 92, 93, 94, 95.

    Năm 1987, khi mới 19 tuổi Maldini đã được gọi vào đội tuyển quốc gia và trở thành một cầu thủ không thể thay thế ở vị trí hậu vệ cánh trái. Không chỉ tung hoành ở giải trong nước, Maldini cùng các đồng đội đã thi đấu rất thành công tại đấu trường cúp C1 châu Âu.

    Với chiến thắng 4-0 đầy thuyết phục trước Steau Bucarest của Rumani trong trận chung kết năm 1989, AC Milan đã đoạt cúp C1 sau hơn 20 năm chờ đợi. Sau đó với phong độ tuyệt vời của bộ ba người Hà Lan: Van Basten, Ruud Gullit và Frank Rikaajd và những chuyên gia phòng thủ như Baresi, Tassotti và Maldini AC Milan đã thống trị bóng đá châu Âu suốt những năm cuối thập kỷ 80 đầu 90.

    Hai chiếc cúp C1 tiếp theo (1990, 1994) và siêu cúp châu Âu (1989,90,94) đã đưa AC Milan trở thành một CLB khổng lồ. Trận chung kết cúp C1 năm 1994 thực sự là một kỷ niệm đẹp đối với Paolo.

    Sau khi vượt qua Monaco của Pháp, Milan chơi trận chung kết với Barcelona của Tây Ban Nha, đội bóng được đánh giá là mạnh nhất châu Âu lúc bấy giờ. Nhưng với một quyết tâm và tinh thần chiến đấu của người Ý, Milan đã đánh bại Barca với tỷ số không thể tưởng tượng nổi 4-0.

    “Một trận đấu tuyệt vời”- Maldini nhớ lại, “Chúng tôi đã khóa chặt cặp tiền đạo sát thủ Romario - Stoichkov và giành chiến thắng”. Trận đấu đó cũng là đòn quyết định làm sụp đổ thời kỳ hoàng kim của “dream team” Barcelona dưới triều đại Johan Cruyff.

    Bỏ lại những thành công tại CLB, Maldini khoác áo đội quân thiên thanh tham dự World Cup ’90 ngay tại quê nhà. Với những cầu thủ dày dạn kinh nghiệm kết hợp với dàn cầu thủ trẻ tài năng như R. Baggio, Maldini, Vialli… Italia được coi là một trong những kẻ chắc thắng nhất.

    Nhưng sự xuất sắc của thủ môn Argentina và sự kém may mắn đã buộc người Italia phải bằng lòng với vị trí thứ 3. Sự kém may mắn còn theo đuổi họ đến USA ’94, nơi mà A. Sacchi đã trình diễn một đội tuyển Italia theo phong cách AC Milan.

    Trở thành trụ cột của hàng phòng ngự bên cạnh F. Baresi, Maldini đã có một vòng chung kết khá thành công. Thế nhưng, thất bại trước Brazil sau những loạt sút luân lưu đã không cho Maldini cùng đồng đội bước lên bục cao nhất.

    Và hình ảnh đội trưởng Baresi òa khóc sau khi kết thúc trận đấu vẫn còn làm Maldini day dứt: “Khi rời khỏi sân Rose Bowl năm 1994, chúng tôi đều có cảm giác là đã thi đấu hết sức mình và niềm tiếc nuối thật là lớn: thua một trận chung kết có tầm quan trọng đến thế sau những quả phạt đền luân lưu, thật là ngớ ngẩn, thậm chí bất công”.

    Sau khi Baresi từ giã đội tuyển quốc gia, Maldini trở thành đội trưởng: “Điều đó tăng thêm phần nào trách nhiệm cho tôi. Thật là vinh dự lớn khi dẫn dắt đội tuyển. Và là một may mắn khi kế nhiệm Baresi, một cầu thủ lớn mà tôi rất khâm phục”.

    Thất bại liên tiếp tại Euro ’96 và France ’98 đã làm nhiều người nghi ngờ khả năng của Squadra Azzurra (đội tuyển quốc gia Italia). Không lùi bước, Maldini cùng đồng đội đã có một sự lột xác tại Euro ’2000 dưới thời Dino Zoff. Lọt vào trận chung kết sau khi đánh bại đội chủ nhà Hà Lan, Italia đã chơi một trận xuất thần trước đội tuyển Pháp, nhưng một lần nữa may mắn lại không mỉm cười với họ, bàn gỡ hòa ở những giây cuối trận của Wiltord và bàn thắng vàng của Trezeguet đã chấm dứt cơ hội bước lên bục vinh quang cùng đội tuyển của Maldini.

    Với 124 lần khoác áo đội tuyển, anh đã vượt qua kỷ lục 112 trận của thủ môn huyền thoại Dino Zoff. Ở đội tuyển Italia hiện nay Maldini thực sự là một “tượng đài”, một cầu thủ với tấm danh thiếp khác thường và luôn được sự ưu ái của các huấn luyện viên.

    Dù chưa đạt được một thành tích đáng kể nào với đội tuyển quốc gia nhưng bảng thành tích của anh ở AC Milan đã vượt qua cả cha anh, Cerase Maldini. Anh cũng là người giữ kỷ lục thi đấu cho đội tuyển tại các vòng chung kết Euro (kỷ lục cũ thuộc về Fachetti).

    Trong sự nghiệp vinh quang của mình, anh đã làm nảy sinh bao lời ca ngợi tốt đẹp nhất: “Đó là hậu vệ xuất sắc nhất thế giới” (Capello); “Một con ngựa nòi chính cống” (Sacchi). Còn theo Baresi, đồng đội của anh tại đội tuyển và AC Milan thì Maldini là: “Một quái tượng nổi danh và thông minh về chiến thuật”.

    Trên sân cỏ, anh là một cầu thủ mà bất cứ một tiền đạo nào cũng phải kiêng nể. Theo Batistuta, sát thủ lừng danh người Argentina thì: “Maldini là một đối thủ đáng sợ nhất mà tôi thích thú đươc gặp”.

    Người ta ca ngợi những đức tính về bóng đá của anh, và cả thái độ rất gương mẫu của anh trên sân cỏ. Trong gần 15 năm thi đấu anh chỉ bị phạt thẻ đỏ 2 lần và rất ít khi bị phạt thẻ vàng.

    Anh luôn giữ thái độ bình tĩnh trên và tránh những hành động hung bạo ngay cả trong những trận đấu căng thẳng nhất. Anh tâm sự: “Đức tính đó có được là do giáo dục. Với một người cha bao giờ cũng gần gũi với các con và đồng thời, lại có một sự nghiệp cầu thủ, rồi huấn luyện viên gương mẫu, tôi có một người thầy tốt”.

    Một mùa giải nữa đã đi qua và Ac Milan lại không đạt được Scudeto như mong đợi mặc dù đã đầu tư khá nhiều tiền của với những gương mặt xuất sắc Shevchenko, Rui Costa, Inzaghi…

    Maldini sẽ lại sát cánh cùng đồng đội trong hành trình chinh phục đỉnh cao, và tận hưởng những vinh quang mới. Mặc dù đã bước vào tuổi 35 và không còn ở thời kỳ đỉnh cao nhưng chắc chắn chúng ta vẫn sẽ được chứng kiến một Maldini mạnh mẽ và tài hoa trên sân cỏ.

    Trên sân cỏ, Maldini là một hình mẫu mà tất cả các cầu thủ trẻ đều phải học hỏi. Ngoài đời thường anh là một con người được tôn trọng, một người chồng, người cha mẫu mực. Người ta tôn trọng cầu thủ nơi anh, người ta yêu mến con người trong anh. Đôi khi người ta thần tượng hóa anh, bởi mắt xanh trong của anh, thân hình hoàn hảo hay lọn tóc không theo nếp của anh.

    Hình ảnh một Maldini với dáng chạy mạnh mẽ, mái tóc bồng đầy chất nghệ sỹ đã làm say mê biết bao trái tim thiếu nữ. Những lá thư anh nhận được nhiều vô kể.

    Cho tới ngày mà anh chàng đẹp trai Paolo kết hôn với Adriana, một người mẫu đẹp lộng lẫy ở Caracas, trước sự thất vọng của hàng ngàn thiếu nữ Italia. “Nhưng ngày hôm đó, dù sao tôi cũng đã nhận được rất nhiều lời chúc mừng hạnh phúc”, anh tâm sự, “họ mong muốn tôi trở thành nhà vô địch thế giới”.

    Một vị trí khác thường trên sân cỏ, một cô vợ xinh đẹp và một gia đình hạnh phúc, anh là một con người rất mực gương mẫu. Luôn dành thời gian chăm sóc cho gia đình, anh cũng là một cầu thủ có mối quan hệ rất thân mật với cổ động viên.

    Theo anh, “nhiều lúc báo chí cứ coi tôi là một người chồng mẫu mực” là hơi quá vì “cuộc đời bóng đá làm tôi bận bịu suốt, tôi chẳng có nhiều thời gian cho gia đình.” Nên trong khi người ta bàn luận về cơ hội của đội tuyển quốc gia tại France’98 thì Maldini lại phải gác tất cả những công việc lại chăm lo cho cậu con trai Cheistian mới ra đời. Nhưng ngay cả điều đó cũng không ngăn cản được việc anh thường xuyên nhận được hàng trăm lá thư của các thiếu nữ, những người luôn coi anh là một vị hôn phu lý tưởng.

    Đẹp trai, trang nhã và giàu có, Maldini đã đạt được tất cả những gì tốt đẹp nhất cả trong và ngoài sân cỏ. Cả cuộc đời cầu thủ anh đã cống hiến cho Ac Milan và đội tuyển quốc gia. Mong muốn lớn nhất của anh là được kết thúc sự nghiệp cầu thủ vẻ vang tại CLB quê hương giống như Baresi và có nhiều thời gian để chăm sóc cho gia đình.

    Paolo Maldini
    Sinh ngày: 26-6-1968 tại Milano.
    Chiều cao: 1.85m
    Nặng: 78kg
    Vị trí trên sân: Hậu vệ trái.
    Câu lac bộ: AC Milan
    Thành tích:
    Vô địch Italia: 1988, 90, 92, 93, 96, 99.
    Siêu cúp Italia: 1988, 90, 92, 93, 95.
    Cúp C1 Châu Âu: 1989, 90, 94.2003
    Cúp liên lục địa: 90, 94.
    Á quân tại Euro 2000.







    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  4. # ADS
    Redcafe Circuit advertisement
    Tham gia ngày
    Always
    Nơi Cư Ngụ
    Advertising world
    Bài gởi
    Many
     
  5. #17
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Denis Bergkamp - Người châm ngòi nổ của “Khẩu thần công” Arsenal

    Với kỹ thuật xử lý bóng khéo léo, tinh tế, chàng tiền đạo tài hoa của xứ sở hoa Tuy-líp và những cối xay gió đã làm điên đảo người hâm mộ với những bàn thắng “trong mơ”. Người dân Hà Lan gọi đứa con cưng của mình là “Shadow Striker” (“Tiền đạo vô hình”). Đồng đội thì gọi anh với những cái tên thân mật gần gũi - Beavis, Denise. Các fan hâm mộ của Arsenal coi anh là một “huyền thoại”.

    Một ngày mùa hè năm 1969 tại thành phố Amstecdam cổ kính ở đất nước Hà Lan, cả gia đình người thợ điện Win Bergkamp vui mừng chào đón sự ra đời thành viên thứ sáu của gia đình.

    Đó là một bé trai rất kháu khỉnh. Vốn hâm mộ ngôi sao tài ba của Manchester United là Denis Law, người cha đã đặt tên cho con mình là Denis Bergkamp, cái tên này không ai ngờ rằng về sau lại trở thành niềm tự hào của người dân xứ sở hoa Tuy-líp, trở thành linh hồn của đội bóng “Cơn lốc màu da cam” mỗi khi anh ra sân trong màu cờ sắc áo của đội tuyển Hà Lan.

    Denis Bergkamp tên đầy đủ là Denis Nicolas Bergkamp, anh sinh ngày 10- 05- 1969 và là con út trong một gia đình có bốn anh em trai. Ngay từ khi con nhỏ, chú bé Denis bergkamp đã rất yêu thích môn bóng đá và vẫn thường lũ trẻ chơi bóng trên đường phố.

    Đây dường như là một ngoại lệ trong gia đình bởi cả ba người anh của Bergkamp đều chăm lo học hành và về sau đều tốt nghiệp đại học. Chú bé Bergkamp vốn là cổ động viên của Tottenham và luôn mơ ước được gia nhập câu lạc bộ mà mình hâm mộ.

    Có một lần cậu bé được đến thăm sân vận động White Hart Lane và được bố mua cho một bộ đồng phục của Tottenham. Từ đó trở đi mỗi năm Bergkamp đều có một chiếc áo của Tottenham với số 10 của Glenn Hoddle sau lưng.

    Đây chính là thần tượng thời thơ ấu của Denis Bergkamp- người mà anh luôn cố gắng học tập và bắt chước. Mặc dù là một fan hâm mộ Tottenham và từng mơ ước được khoác áo câu lạc bộ này song cuối cùng thì câu lạc bộ ở nước Anh mà Denis Bergkamp lựa chọn lại là Arsenal.

    Trước khi chuyển sang thiđấu cho Arsenal vào năm 1995 Denis Bergkam đã từng thi đấu bảy mùa giải cho Ajax Amstecdam và tiếp đó là hai mùa giải khoác áo Inter Milan sau khi hợp đồng chuyển nhượng được ký vào năm 1993, anh đã hai lần đạt đoạt cúp UEFA, một lần với Ajax (1992) và một lần với Inter Milan (1994).

    Năm nay đã 33 tuổi song chàng trai vàng này vẫn thể hiện được phong độ của một cầu thủ đẳng cấp quốc tế. Anh luôn là nỗi lo sợ của các hàng phòng thủ mỗi khi anh nhận được bóng từ các đường chuyền thông minh của đồng đội.

    Ghi bàn dường như là bản tính vốn có của Denis Bergkamp. Khả năng nổi bật của Denis Bergkamp là việc đón nhận những đường chuyền dài, bổng trên không và bằng kỹ năng điêu luyện biến chúng thành những bàn thắng trước sự bất lực của hậu vệ và thủ môn đối phương. Chỉ một vài cầu thủ trên thế giới nắm vững khả năng ấy một cách hoàn hảo.

    Người dân Hà Lan không thể nào quên được bàn thắng ấn định tỷ số 2-1 cho đội tuyển Hà Lan trong trận gặp Argentina của Denis Bergkamp ở vòng tứ kết World Cup 98. Bàn thắng này thể hiện kỹ năng xử lý bóng hết sức khéo léo và khả năng làm chủ tốc độ tuyệt vời của Bergkamp.

    Quan trọng hơn, bàn thắng này đã giúp Hà Lan vào được vòng bán kết World Cup lần đầu tiên từ 20 năm qua - một thành tích mà ngay cả thế hệ trước với những tài năng như Gulit, Van Basten, Koeman,… cũng không đạt được. Không những thế Hà Lan còn đòi được món nợ thất bại trước Argentina ở Mondial 78.

    Dân chúng Amstecdam đổ ra đường vui mừng chiến thắng của đội nhà trước đối thủ Argentina. Họ mặc toàn đồ màu da cam từ đầu đến chân bóp kèn xe, rung chuông xe đạp chạy khắp thành phố khi Denis Bergkamp ghi bàn thắng “hạng thế giới”, khắp thành phố rung lên tiếng reo hò từ hàng ngàn điểm chiếu trực tiếp và các quán bar ở trung tâm thành phố. Người ta hô vang tên anh trong niềm tự hào và niềm vui mừng chiến thắng.

    Với 70 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, Denis Bergkamp đã ghi được 36 bàn thắng - một kỷ lục, bởi chưa có ai đạt được con số này. Với 36 bàn thắng, anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại trong màu áo của đội tuyển Hà Lan và là trụ cột của đội tuyển quốc gia. Những pha ghi bàn của anh có vẻ rất dễ dàng và đầy ngoạn mục.

    Danny Wilon, huấn luyện viên của câu lạc bộ Bornsley đã ca ngợi: “chúng tôi không thể cản phá kịp thời những pha đi bóng của anh, trước khi chúng tôi đuổi kịp anh thì trái bóng đã nằm gọn trong lưới”.

    Với một kỹ năng rất hoàn hảo, trong 7 mùa bóng đầu quân cho câu lạc bộ Ajax Amstecdam anh đã ghi được 103 bàn thắng với số trận tham gia là 185 trận. Đây quả là một con số đáng để tự hào và là niềm mơ ước của bất kỳ cầu thủ nào.

    Năm 1993, anh chuyển sang thi đấucho Inter Milan và sau hai mùa giải đầy thất vọng tại đây ( chỉ ghi được 11 ban trong 52 trận). Denis Bergkamp chuyển sang thi đấu cho Arsnal. Tại đây anh thực sự thể hiện được phong độ đỉnh cao của mình và trở thành một “ huyền thoại” trong lịch sử của câu lạc bộ.

    Trong trận đấu đầu tiên cho Arsenal, Bergkamp đã thực hiện một hat-trick trong vòng 8 phút sau khi được thay vào sân trong một trận đấu giao hữu với câu lạc bộ Thụy Điển, Kristianstads.

    Ở Arsenal, càng thi đấu anh càng tỏ ra sung sức và trở thành cây ghi bàn chủ lực của đội. Những bàn thắng “vàng”của anh đã góp phần rất lớn giúp Arsenal trở thành một thế lực ở Premier league và đấu trường châu Âu như hôm nay.

    Năm 1995 khi sang đầu quân cho đội bóng của ông Bruce Rioch, Denis bergkamp đã phá kỷ lục về phí chuyển nhượng của Arsenal khi Bruce Rioch bỏ ra 7,5 triệu bảng để mua anh. Kỷ lục cũ là 2,5 triệu bảng cho Ian Wright và John Hartson.

    Người ta đã không nhầm khi đánh giá cao khả năng của Denis Bergkamp bởi từ đó anh đã cống hiến cho đội bóng hết mình và đã lập nên nhiều kỳ tích trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Arsenal.

    Với một phong độ rất sung mãn, mùa giải 1997-1998, Denis Bergkamp được coi là cầu thủ đã đóng góp thêm một chút vào lịch sử bóng đá Anh khi 3 trong số các bàn thắng của anh được các khán giả của chương trình “Match of the day” (“trận đấu trong ngày”) của đài BBC bình chọn là bàn thắng xuất sắc nhất, nhì, ba trong tháng.

    Đây là điều chưa từng xảy ra trong gần 30 năm qua. Ngoài ra Denis Bergkamp còn là cầu thủ đầu tiên hai lần liên tiếp đoạt giải thưởng “Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng” của Liên đoàn bóng đá Anh.

    Thi đấu trong một đội hình được tổ chức tốt, Denis Bergkamp trở thành cầu thủ có kỹ năng chuyền bóng chính xác, tạo cơ hội ghi bàn cho đồng đội. Vai trò con thoi giữa hàng tiền đạo với tuyến tiền vệ được anh thực hiện một cách rất ấn tượng. Đồng đội tin tưởng vào khả năng dẫn bóng, giữ bóng và sút bóng của Denis Bergkamp.

    Cổ động viên của Arsenal yên tâm khi tên Denis Bergkamp xuất hiện trong đội hình thi đấu chính thức. Phong độ của anh dường như xuất sắc hơn sau mỗi trận đấu và con át chủ bài của Arsenal không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để ghi bàn. Với những gì anh làm được sau mỗi trận đấu, người ta đã gọi anh bằng cái tên “Kẻ khủng bố”.

    Vâng, anh luôn là “Kẻ khủng bố” đối với các hàng phòng thủ và cho dù anh đang bị hậu vệ đối phương bám như hình với bóng thì đồng đội vẫn cứ chuyền bóng cho anh. “Thùng thuốc súng” luôn bùng nổ mỗi khi “kẻ khủng bố” lên tiếng.

    Trong suốt thời gian Denis Bergkamp về đầu quân cho Arsenal, anh trở thành “Chiếc van dự báo” về tình trạng sức khỏe của đội bóng này. Nếu Denis Bergkamp đang ở phong độ tốt, điều đó đồng nghĩa với việc Arsenal là đội bóng khủng khiếp.

    Nhưng một khi sức khỏe của anh có vấn đề thì ngay lập tức trên nhiều gương mặt của ban lãnh đạo cũng như cổ động viên xuất hiện những cái nhíu *** lo lắng, những nụ cười sượng và có cảm giác như những đám mây đen kéo xuống bao phủ bầu trời Arsenal.

    Bóng đá là duyên nghiệp của Denis Bergkamp. Năm 12 tuổi, Denis Bergkamp đã ngừng chơi bóng đá trên đường phố Amstecdam vì sợ rằng những chấn thương sẽ cản trở anh trong việc gia nhập trường bóng đá huyền thoại của Ajax. Cũng trong năm đó Denis Bergkamp gia nhập trường đào tạo bóng đá nổi tiếng của Ajax.

    Tại đây anh được đào tạo chơi ở mọi vị trí trên sân để đoán các đồng đội đang nghĩ gì. Chính điều này đã giúp anh rất nhiều trong việc phối hợp với đồng đội rất ăn ý, như anh vẫn thường nói “một thoáng trao đổi ánh mắt là đủ…”. Johan Cruyff đã sớm nhận ra tài năng của Denis Bergkamp và đã cho anh đá lần đầu tiên trong màu áo của Ajax khi anh mới 17 tuổi.

    Không hề làm cho huấn luyện viên thất vọng, Denis Bergkamp thi đấu ngày càng xuất sắc. Năm 1989, anh đã ghi bàn liên tục trong suốt 10 trận đấu cho Ajax và anh đã 3 lần lập kỷ lục ghi 25 bàn thắng trong một mùa giải cho câu lạc bộ này. Anh đã cùng với Ajax đoạt cúp các đội đoạt cúp Châu Âu 1988, vô địch Hà Lan các năm 1988, 1990, 1993.

    Trước kia Denis Bergkamp đã từng luyện tập để trở thành vận động viên chạy nước rút song anh quyết định theo nghiệp bóng đá. Và có lẽ chính những năm tháng rèn luyện đó đã tạo cho anh những pha di chuyển với vận tốc của vận động viên chạy nướt rút khiến cho các hậu vệ đối phương phải rất vất vả mới theo kịp.

    Trong quá trình chơi bóng anh đã theo học một lớp đào tạo tại trường cao đẳng nhưng rồi chính anh đã rời khỏi đây- nơi mà anh được đào tạo như một nhà vật lý trị liệu - để tập trung cho bóng đá, môn thể thao yêu thích và là niềm đam mê của anh - là nơi anh cống hiến tài tài năng và nghệ thuật chơi bóng.

    Bergkamp từng tâm sự, đam mê lớn nhất của anh là bóng đá và Billiar (bi-a). “Nếu không trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, có thể tôi sẽ là một tay cơ có hạng”.

    Nhưng dẫu sao thì Bergkamp đã lựa trọn bóng đá, môn thể thao mang lại cho anh vinh quang và sự nổi tiếng. Năm 1992, anh được bầu chọn là “Cầu thủ trong năm” của Hà Lan. Là một cầu thủ thuộc đẳng cấp quốc tế, anh được đánh giá là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới hiện nay.

    EURO 2000 cũng là thời điểm Dennis Bergkamp tuyên bố sẽ giã từ đội tuyển quốc gia sau khi kết thúc vòng chung kết. Điều này cũng có nghĩa World Cup 98 là giải đấu lớn cuối tế của anh.

    Hiện nay Denis Bergkamp đang thi đấu cho Arsenal và đây cũng là nơi sẽ kết thúc sự nghiệp cầu thủ của chàng tiền đạo tài ba này bởi năm nay anh đã 33 tuổi. Tuy vậy , anh chưa tỏ ra là mình đã “ già” bởi cho đến nay phong độ thi đấu của anh vẫn rất ổn định.

    Là một cầu thủ nổi tiếng song Denis Bergkamp vẫn luôn tỏ ra khiêm tốn và đây chính là đức tính quý báu khiến cho bạn bè, đồng nghiệp cũng như ban lãnh đạo rất quý mến và nể trọng.

    Điều này được thể hiện ở vòng tứ kết Would Cup 98 khi Hà Lan phải đến Marseille để thi đấu với Argentina, thay vì đi máy bay như thường lệ, toàn đội tuyển Hà Lan đã quyết định dùng xe buýt để bày tỏ tình đoàn kết với Bergkamp.

    Bởi lý do: Denis Bergkamp rất sợ đi máy bay. Từ năm 1994 đến nay anh chưa một lần leo lên một chiếc máy bay. Và anh đã thề sẽ không bao giờ có điều đó xảy ra, sau sự kiện 1994 khi chiếc máy bay chở anh và đội tuyển buộc phải hạ cánh gấp vì bị đe dọa sẽ cho phát nổ.

    Người dân Hà Lan gọi đứa con cưng của mình là “Shadow Striker” (“ Tiền đạo vô hình”). Đồng đội thì gọi anh với những cái tên thân mật gần gũi - “Beavis”, “Denise”.

    Các fan hâm mộ của Arsenal coi anh là một “huyền thoại”. Còn Denis Bergkamp thì nói “Có một phần thưởng lớn lao hơn mọi danh hiệu là khi một cầu thủ được các cổ động viên yêu mến và đến sân vận động chỉ để xem anh ta thi đấu. Đó chính là điều tôi muốn cho riêng mình.

    Còn một huyền thoại ư? Tôi cũng không biết nữa, đó là một từ “ to tát”. Tôi muốn giành được những phần thưởng và có thể đến lúc đó tôi hạnh phúc khi được gọi là huyền thoại”.

    Câu lạc bộ: Arsenal
    Số áo thi đấu: 10
    Ngày sinh: 10/5/1969
    Nơi sinh: Amsterdam, Hà Lan
    Chiều cao: 1,82m
    Vị trí: tiền đạo
    Sở thích:
    Xem bóng đá và bi-a (Billiard)
    Thành tích:
    Vô địch ngoại hạng Anh 98
    Cúp FA 1998
    Vô địch ngoại hạng Anh 2002
    Cúp FA 2002





    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  6. #18
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Francesco Totti - Người hùng thành Roma

    Anh là một thủ lĩnh thực sự ở khu trung tuyến, là một kẻ “phá bĩnh” của tất cả các hàng phòng ngự ở Serie A, là người có thể thay đổi cục diện của một trận đấu… anh là Francesco Totti.

    “Totti được chúa ban cho quả bóng tròn” - người ta nói vậy để chỉ “cậu bé to xác” thần tượng bóng đá của thành Rome, từ một lần Totti tới thành tòa thánh Vatican, trong vòng tay ấm áp của “Mama”. Sự gắn bó của Totti với trái bóng đã từ rất lâu, từ khi còn bé xíu, cậu bé đã là một “con nghiện” bóng đá thực sự.

    Mỗi chủ nhật cậu bỏ hết mọi chuyện hăm hở tới sân bóng cổ vũ cho As Roma và thần tượng Giannini. Kỷ niệm đáng nhớ của Totti là thi thoảng được nhặt bóng ở sân vận động Olimpico, được quan sát Maradona từ cự li cực gần mà run lên vui sướng hồi hộp.

    Mẹ Totti - gắn bó gần gũi với anh từ khi anh còn là giọt máu nhỏ xíu, bà nuôi dưỡng, chăm sóc cậu con ham mê bóng đá rất kỹ càng. Hàng ngày bà đưa Totti đi học, đi tập bóng trên chiếc Fiat cũ kỹ.

    Điều kì lạ là cậu bé Totti biết đi khá vững và bắt đầu đùa rỡn với trái bóng khi mới được 9 tháng tuổi. Ban đầu là trái bóng nhựa sau đó là bóng da - thứ đồ chơi hấp dẫn nhất mà Totti luôn ôm khư khư bên mình thậm chí cả khi ngủ.

    Mẹ anh, bà Fiorella lại thường xuyên đẩy cậu bé ra sân nghịch bóng. Phần vì thấy con say mê phần vì ông bà của Totti ở cùng với gia đình anh lại đang ốm rất nặng, bà Fiorella không muốn cậu con trai nhìn thấy ông bà trong tình trạng đó.

    Lớn lên một chút, Totti cùng bạn bè lối phố tung hoành trên sân bóng đường phố - nơi đi về của các thế hệ cổ động viên As Roma. Cả nhà Totti cũng nằm trong số ấy, với họ Beppi Giannini là thần tượng số một.

    Trên đầu giường của Totti bao giờ cũng ngự trị hình ảnh huyền thoại ấy để noi gương. Khi còn bé, Francesco may mắn được giáo hoàng Zean Paul II ban phước lành và mọi người cực kì tin tưởng vào một tương lai tươi sáng sẽ đến với Totti lanh lợi. Không phụ lòng tin của gia đình, Totti đã thể hiện một tài năng bóng đá bẩm sinh và sớm được thừa nhận.

    Totti bước vào sân cỏ chính thức đầu tiên năm cậu lên 5 tuổi. Mùa hè năm đó Totti theo bố đến sân vận động Giovani xem đội Fortitudo thi đấu. Totti mon men tới gần và xin được vào sân đấu dù chỉ vài phút. Nhìn dáng vẻ gầy gò và mái tóc vàng hoe của cậu khiến người còi nhất đội cũng nghi ngờ.

    Cùng với sự khao khát được chơi bóng và sự năn nỉ chân thành của bố Totti, cuối cùng cậu bé đã được đồng ý. Sau vài phút thi đấu, Totti ghi được hai bàn thắng và khi đó mọi người lại không muốn cho anh rời sân. Đó là thời điểm đầu tiên bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp, trên bờ biển gần thành Roma.

    Trong đội hình Fortitudo, Totti là cầu thủ gầy gò còi cọc nhất đội nhưng lại là cầu thủ giỏi nhất. Cậu bé có đường vờn và rê bóng uyển chuyển tuyệt vời với kỹ thuật siêu hạng.

    Totti là món quà của tự nhiên. Anh có khả năng nhìn thấy trước điểm dừng vào đích của trái bóng. Trong khi bạn cùng trang lứa mải mê với những bộ phim hoạt hình thì Totti say sưa xem những trận bóng đá trên TV.

    Môn thể thao vua càng ngày càng có sức lôi cuốn cậu bé mạnh mẽ. Trước khi về với As Roma, Totti đã chạy từ sân Porta Metronia, từ những năm 1986, đến sân Trigoria… và cuối cùng khi nhìn thấy sân vận động của As Roma; Totti đã phát rồ và lập tức đồng ý lời đề nghị của ông Voeller và Gianni về với As Roma.

    Cậu bé Totti ngày nào giờ trở thành tiền đạo sáng giá trong đội hình As Roma đã khiến mọi người thán phục bằng một kỹ thuật điêu luyện, lối quan sát tinh tế và hiệu quả xuất sắc khi chơi bóng trong đội.

    Huấn luyện viên người Serbia, Vujadin Boskov đã tung anh vào đội hình 1 khi Totti mới 16 tuổi (đang trong biên chế đội trẻ). Anh được tham gia thi đấu giải Serie A - điều này có nghĩa là họ đã công nhận anh như một cầu thủ đã từng khổ kuyện trong CLB tám năm rồi.

    Trước đó, ban lãnh đạo CLB As Roma đã nhận ra khả năng tiềm ẩn của cậu, và thúc giục huấn luyện viên chú ý “chăm sóc”. Cậu tiến bộ rất nhanh, tiềm năng đã nẩy nở thực sự trở thành tài năng và được khẳng định khi Totti được đeo băng đội trưởng với thành tích 13 bàn thắng ghi được ở vị trí tiền đạo.

    Hậu vệ Aldair chứng kiến từ ngày đầu khời nghiệp của anh, sau này đã nói “trước đây tôi lấy bóng trong chân cậu ta rất dễ dàng, còn bây giờ…”. Công chúng hâm mộ Totti bừng bừng, gào thét đòi đưa anh vào sân liên tục từ những ngày mà sự xuất hiện của anh trên sân chưa có một vị trí vững chắc, điều này làm HLV Bianchi nổi cáu dọa sẽ không cho anh thi đấu nếu họ còn nhiều lời.

    Phải nói rằng Bianchi không ưa gì Totti, vì thế anh suýt bị bán cho Sampdoria nhưng sự nổi bật của anh trong trận thư hùng với Ajax và Borussia Dortmund đã khiến ông ta phải nghĩ lại. Với Bianchi, Totti đã có danh hiệu của anh lúc 16 tuổi cũng như bàn thắng đầu tiên ghi được ở Serie A.

    Trong trận Roma - Foggia (1999) không có gì đảm bảo nếu anh tiếp tục mắc phải cái “tính cách biếng nhác” của người La Mã. Nhưng đến thời HLV Zdenek Zeman, cơ hội để Totti bứt phá đã đến, dù hơi muộn màng.

    Băng đội trưởng về tay Totti như một sự công nhận xứng đáng cho ngôi sao muộn. Tính cách hài hước của Totti bộc lộ rõ trong trận đấu Roma thắng 3-1 đội bóng láng giềng, Totti ghi một bàn và anh cởi áo thi đấu ra để bộc lộ chiếc áo thun bên trong mặc sẵn dòng chữ “Tôi đã thanh trừng được các anh”.

    Hành trình của Totti với trái bóng không thật suôn sẻ. Bắt đầu vào tháng 2-1996, trong đợt tập huấn với huấn luyện viên Arrigo Sacchi, Totti ghi được hai bàn cùng lời khen hài lòng của ông huấn luyện viên nổi tiếng “xiếc” này.

    Anh cùng đội tuyển U21 giành danh hiệu vô địch châu Âu. Tới năm 97 anh đoạt huy chương vàng bóng đá tại ĐH thể thao vùng Địa Trung Hải. Trận giao hữu với Bồ Đào Nha, anh ghi bàn thắng nhưng đến trận gặp Belarus, bị thay ra sân, Totti đã bỏ về trước các đồng đội. Và đến tận Euro 2000 HLV Dino Zoff mới bỏ qua cho anh “lỗi phạt này”.

    Totti hiện là thần tượng mới của đất nước Italia, bởi tài năng của anh đã chinh phục được hết thảy cổ động viên. Dư luận đánh giá anh sắp vượt qua hình ảnh quen thuộc Alessandro Del Piero.

    Tên tuổi Totti xuất hiện thường xuyên trên các báo thể thao, truyền hình, quảng cáo… anh được nhắc đến liên tục trong cuộc chạy đua giành quả bóng vàng châu Âu. Người được báo chí Italia đánh giá tài năng còn vượt trội hơn cả tiền đạo Liverpool, Michael Owen.

    Đây là nhận định bất ngờ nhưng không phải là không có cơ sở, nó xuất hiện sau trận hòa 0-0 giữa hai đội trong lượt trận thứ hai Chamlions League. Đứng trước chuyện này Totti chỉ khiêm tốn “Owen là tài năng hiếm thấy. Trong cách nhìn của tôi, Owen xứng đáng giữ vị trí số một nhờ những bàn thắng mà anh ghi cho Liverpool và đội tuyển Anh. Totti cũng nhấn mạnh đến vai trò lớn của một tập thể sau lưng, đó là đội bóng với sự đoàn kết hỗ trợ không mệt mỏi cho nhau".

    Còn Owen cho rằng “Totti là mẫu tiền đạo toàn diện”. So vời những khó khăn mà Totti phải vượt qua để vươn lên thành một tên tuổi sáng lạn ở Italia như yêu cầu thể lực thật tốt, bị kèm quá chặt… thì với Owen nếu sang Italia điiểm yếu nhất của anh chính là thể lực.

    Hiện Totti khoác áo số 20 trong đội hình Squadra và để yên lòng người hâm mộ, anh đã tuyên bố đầy tự tin “Paolo Rossi từng là người hùng của World Cup 1982 với số áo này, tôi cũng vậy. Tôi muốn để lại dấu ấn trong làng bóng đá quốc tế năm 2001”. Và thật vậy, Totti đã ghi bàn thắng trong trận gặp Parma 6-2001, giành về danh hiệu vô địch cho Roma sau hai thập kỷ bị tuột mất.

    Từ đây, Totti trở thành món chủ vị trong mọi bữa tiệc bóng đá của Italia và đội As Roma. Ngày 21-8-2001 thật là một ngày tuyệt vời “đó là những giây phút đáng nhớ, chúng là những gì tốt đẹp nhất trong sự nghiệp của tôi cho tới giờ phút này. Giấc mơ của tôi là mong sao giành chiến thắng với Roma và tôi thật sự tin tưởng vào điều đó. Tôi cảm thấy một sự xúc động lớn khi tôi có cơ hội nâng chiếc cúp Supercoppa… chúng tôi đã mở ra một quỹ đạo mới với chiến thắng của Scudetto và siêu cúp Italia.

    Chúng tôi có khả năng để tiếp tục chiến thắng: Là một người anh hùng, Totti đã ghi bàn trong trận Roma-Napoli 3-0 hồi tháng giêng 2001 để tưởng nhớ cậu bé Daniel Buffa, người bị tai nạn xe hơi cướp đi cuộc sống trước đó hai tuần.

    Totti đã hướng lên trời và gửi một nụ hôn đến toàn thể cổ động viên hùng hậu của Roma trong niềm xúc động lớn lao. Những tiếng reo hò “Totti Goal!!!” đã trở nên quá quen thuộc trên cầu trường có cổ động viên Roma cũng như những người yêu bóng đá ngưỡng mộ tài năng của anh.

    Trong danh sách xếp hạng để trao giải quả bóng vàng châu Âu, Totti xếp thứ 5, sau Owen, Raul, Kahn, Beckham. Cống hiến tài năng và tiếp tục tỏa sáng ở Roma, đội bóng máu thịt, Totti chẳng nghĩ đến nơi nào khác nữa. “Tôi nghĩ sẽ kết thúc sự nghiệp ở Roma, tôi đang có hợp đồng năm năm, và điều đó có nghĩa là hợp đồng sẽ hết khi tôi ngoài 30 tuổi. Tôi không nghĩ là mình sẽ đi bất cứ đâu khác”.

    Giờ đây, Totti trở thành cái tên không thể thiếu trong màu áo đội tuyển quốc gia. Anh được đề cử cho giải cầu thủ chơi hay nhất Serie A và cầu thủ xuất sắc nhất Italia.

    Anh đã vượt qua Tomassi và Nesta. Phần thưởng này có ý nghĩa đặc biệt bởi nó được chính những đồng nghiệp của anh trao tặng và thừa nhận. Đó là sự tôn vinh xứng đáng cho những gì Totti đã thể hiện trên đấu trường đẳng cấp quốc tế.

    Lạc quan vào tương lai của mình cũng như đội tuyển Italia, với anh, bóng đá là một môn thể thao đầy kịch tính và những điều tuyệt diệu, cả thế giới sẽ thao thức với những vòng quay của trái bóng, cùng lo âu và vui sướng đến ngộp thở.

    Là người có cá tính hài hước, nhiệt tình với đồng nghiệp, Totti đã cảnh báo Cassano với tư cách là một người đội trưởng, nguời đi trước, về tương lai của “ma mới” tại sân Olimpico, bởi với trách nhiệm của đội trưởng, Totti hy vọng vào điều kì diệu từ ”cậu bé” bằng cách giúp đỡ cậu ta về cách ứng xử, cam kết sẽ làm tất cả để Cassano thích nghi được cuộc sống mới ở đây.

    Totti và Nesta là hai người bạn thân thiết từ nhỏ, cùng với niềm đam mê bóng đá nhưng khi trưởng thành họ lại khó gần gũi nhau vì một người thuộc AS Roma, một thuộc về Lazio, thành thử họ chỉ là đồng đội trong đội hình Italia khi thi đấu với thế giới.

    Trong khi môi trường thi đấu giữa họ chỉ là sự cạnh tranh “đơn thuần và vĩnh viễn”. Đôi khi trước những trận đấu quan trọng giữa AS Roma và Lazio, họ phải có những cuộc đàm thoại bày tỏ sự thân thiện hữu hảo để tránh sự xung đột và bạo lực xảy ra trong giới cổ động viên cuồng nhiệt. Tuy nhiên, giữa họ, đó thật sự là những câu nói chân thành, xã giao nhưng không bao giờ là giả dối.

    Còn với Vincent Candela - tuyển thủ quốc tế người Pháp - Totti luôn coi như người bạn đồng niên thủa nhỏ. Tình bạn giữa họ cũng có khá nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Các cuộc đánh bài trên máy bay khi đi thi đấu, Totti bao giờ cũng thắng, nhờ D. Biaggio trộm bài của Vincent rồi bảo cho Totti, thật thú vị.

    Trong khoảng thời gian Totti bị tước bằng lái xe (trong một lần chở cô bạn gái - người mẫu Mazza Maria, đi diễn đã sử dụng con đường dành riêng cho các trường hợp khẩn cấp).

    Vincent tự nguyện làm tài xế cho anh. Totti còn được đặt cho biệt danh “Enel” nghĩa là như điện (tiếng Pháp) vì anh có sở trường tiến đến gần đồng đội khi họ đang luyện tập rồi thúc cho họ một cánh khuỷu làm cho họ choáng như bị điện giật. Francesco nổi tiếng vì những biệt danh mà anh đặt cho đồng đội, Chimenti bị gọi là “Zucchina” - bí ngô xanh, Montella bị kêu là “Areoplanino” - tàu bay…

    Sự chia tay của Totti với Mazza năm 2001 đã làm cho công chúng nghi ngờ rằng vì thế mà anh giảm sút phong độ thi đấu, Totti không thích khi nghe dư luận như thế về mình, anh vẫn cố gắng thể hiện tài năng vượt trội một cách xuất sắc nhất. Và dấu ấn là trận đấu vòng loại World Cup 2002 giữa Italia và Hungari.

    Mặc dù bàn thắng duy nhất của trận đấu được ghi bởi Del Piero đã đưa Italia sang Hàn Quốc và Nhật nhưng đội tuyển áo thiên thanh khó mà có được cơ hội nếu như không có sự nổ lực đầy cảm hứng từ đường chuyền của Totti.

    Ông Giovanni (HLV đội tuyển Italia) coi công sức đóng góp bàn thắng của Totti còn hơn cả Del Piero. Ông ta hào hứng “Mọi cầu thủ đều có tài năng riêng, nhưng trong hội họa cũng chỉ có duy nhất một Van Gogh, không một ai giống ông ta… và Totti là một cầu thủ có khả năng thay đổi một đội bóng hay một trận đấu, giống như Zidane.

    Anh ta đã thật sự trưởng thành và đủ chín chắn trở thành người lãnh đạo đội tuyển Italia. Totti đã trưởng thành cùng đồng đội. Các HLV trước đều coi Francesco là một tiền đạo tấn công nhưng tôi đảm bảo vai trò tốt nhất của anh ta là vị trí tiền vệ.

    Các cầu thủ vĩ đại như Rivera, Platini hay Mazzola đều bùng nổ và tỏa sáng ở tuổi 25 như Totti hiện nay. Tôi nhìn thấy hình ảnh Gianni Rivera khi xem Totti thi đấu trong trận gặp Hungari, Francesco là cầu thủ xuất sắc nhất tôi chứng kiến trong sự nghiệp của mình”.

    Sau đó người ta cho rằng Totti đáng giá 150 triệu Lia nhưng Dimiami thì phàn đối “Totti không thể định giá được. Anh ấy là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới, cực kì phi thường và anh ấy không phải đang trong chợ. Nhưng nếu phải định giá bây giờ thì tôi chỉ có thể nói rằng anh ấy ngang bằng Zidane”.

    Cùng với thú chơi điện tử, chuộng những chiếc xe hơi sang trọng cùng với những cô gái đẹp và món ăn nho-ki; nhưng trên hết Totti vẫn đặt bóng đá kên đỉnh cao vươn tới của anh. Còn mọi người hãy thử thách thức anh… và hãy chờ xem!

    Biệt danh: Ermeglio, Bumbo D’oro (cậu bé vàng)
    Ngày sinh: 27-9-1976
    Nơi sinh: Rome, Italia
    Quốc tịch: Italia
    Chiều cao: 1m80
    Cân nặng: 79kg
    Vị trí: tiền đạo
    Sở thích: xem bóng đá, chơi bida, chocolate, nước cocacla, mặc đồ thể thao
    Các câu lạc bộ đã qua:
    Fortitredo, Smit, Trastevere, Sanbasilio, Lodigiani, AS Roma
    Thành tích:
    Vô địch giải “Hy vọng” châu Âu 1996
    Vô địch Serie A 2001




    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  7. #19
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Alessandro Del Piero - Công tử xứ Conegliano Venelo

    lessandro Del Piero sinh ngày 9-11-1974 ở Conegliano, miền Bắc Italia. Anh có một người anh trai hơn 9 tuổi, Stefano. Mẹ anh, bà Bruna một người phụ nữ chu đáo chăm sóc chồng con, suốt ngày quanh quẩn quanh nhà. Còn ông Cino chồng bà, tất nhiên là bố của Del, là một người thợ điện cần mẫn.

    Alex – tên gọi ở nhà của Del Piero, có chất bóng đá ở trong máu. Điều này nghe có vẻ khôi hài nhưng quả là thế. Khi còn bé, Alex sống cùng bố mẹ trong ngôi nhà thôn dã đơn sơ – nơi đây hiện nay vẫn là nhà của chàng cầu thủ hào hoa, tài ba và nổi tiếng! Cậu nhỏ Alex 8 tuổi thường cùng anh trai và hai người bạn thân Nelso và Pierpaolo chơi bóng trên sân cỏ sau nhà.

    Hai người bạn và Del cùng say mê, ước mong trở thành cầu thủ nhưng chỉ có một người duy nhất trong số họ thỏa được ước nguyện này. Các cậu bé chẳng ham mê xem hoạt hình, chuyện tranh, trêu chọc bạn gái…mà chỉ say sưa với trái bóng. Alex cực kỳ hạnh phúc vì Bruna theo dõi cậu út thật sát sao; bà thường mang nước và bánh trái ra sân vườn cho những chàng cầu thủ lúc nào cũng luyện tập, dầm dề mồ hôi tưởng như ngày mai họ phải thi đấu quan trọng.

    Del Piero đã từng là thủ môn, đó là thời gian cậu bé bị ốm. Không được phép luyện tập nhiều, cậu đành đứng trông cầu môn cho hai người đá. Bà mẹ thì lại lấy làm mừng và nghĩ rằng thế lại tốt hơn cho cậu: Nó có thể cao hơn được nữa vì phải vươn người bắt bóng thế kia. Thế là bà hoàn toàn ủng hộ và quyết định vị trí cầu môn của cậu.

    hưng rồi một ngày anh Stefano nói với bà Bruna: Mẹ có thấy rằng Alex chơi cực kì xuất sắc ở vị trí tấn công không? Anh Stefano là người hiểu Alex rõ nhất. Stefano đã từng là cầu thủ chuyên nghiệp chơi cho CLB Sampdoria. Nhưng do một lần bị chấn thương nặng anh phải từ bỏ bóng đá. Stefano chuyển sang lĩnh vực kinh doanh, thâm nhập thị trường chứng khoán, anh đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của đầu tư cho cậu em Alex.

    Đội bóng đầu tiên Alex tham gia là đội bóng huyện nhà San Vendemiano. Năm 13 tuổi Del Peiro bắt đầu sự nghiệp ở CLB Padova (Turin). Turin cách nhà rất xa, mỗi năm Alex chỉ về nhà 2-3 lần. Cậu bé rất buồn và hầu như sống xa gia đình từ đó. Nghe có vẻ tội nghiệp nhưng đời nào bà Bruna và cô con gái nuôi Beatrice, anh Stefano lại để cậu một mình, họ thường xuyên tới thăm và động viên cậu. Sống trong tình thương như thế Alex trưởng thành rất nhanh.

    Ở Padova anh đã chơi hai mùa bóng và ghi được 1 bàn trong 14 trận đấu tại giải SeriB. Năm 93 ông Piero Aggradi nhà lãnh đạo của Padova nhận ra rằng nên để cậu đi đến nơi mà cậu muốn và có thể vươn xa hơn. Chính ông là người đã phát hiện ra tài năng của Alex và gọi cậu vào đội tuyển Padova. Ngậm ngùi chia tay cậu học trò cưng về với Juventus. Chàng trai măng tơ 18 tuổi, Alex về Juventus và ở đó cho đến tận bây giờ, không có một biến cố nào, cậu luôn luôn được ủng hộ và mến mộ ở Juve.

    Ngày mới đến Juventus, Alex chỉ được chơi trong đội cấp dưới Primavera, nhưng anh thật sự nổi bật trong đấu trường Viareggio. Chẳng bao lâu sau Alex ghi bàn thắng đầu tiên ở giải SeriA và lập tức trở thành ngôi sao trong mùa giải SeriA năm đó với 8 bàn trong 29 trận. Nếu như năm 1996, bạn gặp Alex trong trang phục quân đội thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên, vì cũng như bao thanh niên bình thường khác, Alex phải phục vụ cho quân đội. Tuy nhiên 10 tháng trong quân ngũ, Alex chẳng có việc gì vất vả ngoài việc đá bóng. Sau đó thì lại về với Juve.

    Cho đến bây giờ Alex có khá nhiều điều tự hào với Juve: trong giải cúp Toyota 96-97 (cúp liên lục địa) anh đã ghi bàn thắng quyết định đem chức vô địch về cho Juve trong trận chung kết với River Palte ở Tokio: Mùa giải 93-94 trận đấu giữa Fiorentina và Juve đang căng thẳng giằng co với tỉ số 2-2. Người chấm dứt tình trạng đó với bàn thắng ghi vào lịch sử bóng đá Italia chính là Alex…

    Mặc dù vậy, trong suốt chặng đường sự nghiệp, có những lúc tưởng như Alex bị lãng quên. Italia góp mặt tại Euro 96, anh chỉ được ra sân có 45 phút; trong trận chung kết năm 2000 với tuyển Pháp anh bị đổ lỗi vì sự thất bại của tuyển nhà; World Cup 98 anh cũng không ở phong độ tốt nhất; và tháng 11-98, trước sinh nhật một ngày, trận đấu với Udinese giải SeriA anh đã bị chấn thương, cái chân đau đã khiến anh hầu như phải nghỉ thi đấu cho đến cuối mùa giải 1998-1999.

    Dù sao thì Del Piero cũng tỏa sáng rực rỡ năm 1999, khởi đầu là bản hợp đồng quan trọng nhất trong cuộc đời: 5 năm với đội Juventus (từ 29-6-1999) với mức lương 10 triệu đồng Lia một năm, anh lọt vào danh sách cầu thủ có mức lương cao nhất thế giới, sánh với Vieri, Ronaldo và Filippo Inzaghi.

    Thế là anh đã và sẽ ở Juventus 11 năm – Một thời gian gắn bó quá dài của một cầu thủ nổi tiếng tài năng với bất cứ một CLB nào. Mặc dù thất vọng vì ước mơ ở Euro 2000 bất bình thường khi ai đó nói về sự kết thúc sự nghiệp của Peiro vì sự cố đó. Alex đang ở độ tuổi 26 với áo số 10 và phong độ tốt nhất.

    Anh được coi là nguyên nhân gây nên sự mờ nhạt của Roberto Baggio (người hùng của Italia tại World Cup 94 được tổ chức tại Mỹ). Anh thay vào vị trí của Baggio từ khi Baggio bị bán sang Milan. Các nhà lãnh đạo Juve bán Baggio khi anh đang ở đỉnh cao phong độ và là cầu thủ số một trong sự hâm mộ của giới cổ đông.

    Rất nhiều chuyên gia không thừa nhận những lí lẽ trong chính sách của Juve. Phải chăng Juve quá tự tin khi cho rằng chỉ cần có Del Piero – người cầm cờ trong chiến thắng tại giải Champions League ’96 – là quá đủ? Juve đã hoàn toàn yên tâm và đắc thắng khi đoạt chức vô địch cúp quốc gia ’98 nhờ hai bàn thắng quyết định của Del.

    Với hai bàn thắng đó, tiếng tăm và thành công của Del lan rộng và nhanh như vết dầu loang. Những đường chuyền, vờn và dắt bóng như không tưởng, phong thái đá bóng ngẫu hứng, nhưng sự chính xác thì điêu luyện bậc thầy, những bàn thắng quyết định sống còn được ghi sự khao khát tỉ số của anh dâng lên cháy bỏng trong những trận tuyến tưởng như vô vọng cơ hội…

    ”Nhận đường chuyền từ tiền vệ cánh, Alex bình tĩnh tung bóng, chỉnh bóng bằng ngực và nhảy cao đánh đầu. Bóng bay qua đầu hàng phòng ngự dày đặc, lao vào lưới như thể không có gì cưỡng lại được rồi lăn lại chân vị thủ môn đang bàng hoàng”.


    Đó là bàn thắng quyết định đưa Juventus lên danh mục đội bóng xuất sắc nhất thế giới trong giải bóng Liên lục địa 1997… đó là tất cả những gì sẽ mãi còn đọng trong kí ức của các tifôsi – người hâm mộ bóng đá cuồng nhiệt. Tuy nhiên trong đội hình tuyển quốc gia Italia, Del chưa bao giờ được nổi danh như ở Juve.

    Phần vì chiến thuật của tuyển Italia không cần đến các vị trí như Del hay Baggio đảm nhiệm. Đặc biệt Del bị chỉ trích thậm tệ vì hai lần bỏ lỡ cơ hội ghi bàn trong trận chung kết Euro 2000 với tuyển Pháp, phá hỏng giấc mơ của mình và của đội quân Thiên thanh. Sau Euro trở về, Del lại xây dựng từ đầu.

    Mùa bóng 1999-2000 có nhiều dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời cầu thủ của Del Piero. Trước quá nhiều áp lực, Del đã rơi nước mắt và tốn không ít mồ hôi. Với nỗ lực và cố gắng luyện tập bền bĩ cùng tài năng bẩm sinh, Del đã trở lại với sân cỏ sau một thời gian dài hầu như vắng bóng trong niềm vui sướng và nghi ngờ của các fan hâm mộ.

    Liệu Del Piero của họ có lấy lại được phong độ cách đây hai năm không? Alex đã trả lời câu hỏi đó bằng một bảng thành tích cho một mùa bóng đáng tự hào…15 bàn thắng và danh hiệu mới – người đá penalty xuất sắc nhất.

    Giới hâm mộ ngạc nhiên trước một Del Piero với phong cách hoàn toàn mới: chững chạc, bình tĩnh, cẩn trọng như lão tướng già đảo bóng vờn bóng qua đối phương bằng kỹ thuật điêu luyện nhẹ nhàng thay cho việc hộc tốc băng lên sút quả được, quả không như xưa.

    Người ta thấy Del kiên nhẫn duy trì đường bóng với tinh thần đồng đội cao, anh thường lui về vị trí trung phong lùi (đá sau Tiền đạo) hơn là tấn công. Một phong cách mới trưởng thành và cuốn hút. Sau đó là một sự trở lại nhiều hứa hẹn trong niềm tin của giới cổ động viên.

    Tài năng và nỗ lực rèn luyện đã đem lại cho Del nhiều điều đáng nhớ ở Polinesia. Anh đã ghi ngay bàn thắng trong trận đấu với Napoli mùa bóng 2000-2001 bằng cú sút sở trường, lướt qua đối thủ và làm bàn như định mệnh, đem lại niềm vui sướng tột độ cho cổ động viên. Tuần tự đến 18-2-2000, với Piero đầy ắp thực sự đánh dấu sự chín chắn của chàng hoàng tử xứ Conegliano. Alex làm bàn trong trận đấu thứ 11 với Napoli, một đường bóng ngẫu hứng từ vị trí sở trường với sự giúp đỡ của thủ môn Napoli, Fantana.

    Hai ngày sau trận đấu đó, bố anh – ông Gino – ra đi sau một thời gian dài bệnh tật. Alex rất buồn, gia đình là một phần quan trọng lớn đối với anh. Đó cũng là lí do giải thích sự không bình thường trong những pha trình diễn của Del trong các trận đấu tiếp theo. Trận chung kết ngày 18, Alex đã ghi một bàn thắng tuyệt vời với cộp dấu của một kiến tạo đặc biệt, thay thế tỉ số 0-0 ngán ngẩm. Một bàn thắng khổng lồ được ghi vào thời điểm quyết định mang chiến thắng về cho Juve và niềm tin tưởng cùng hào quang cho Pinturicchio – Del.

    Pinturicchio là nick-name đầu tiên liên quan đến công việc của Del, do ông Gianni Agnelli, chủ tịch CLB Juve đặt cho. Lúc đó vị chủ tịch này cũng gọi Roberto Baggio là Giotto, tên một họa sĩ nổi tiếng hơn họa sĩ Pinturicchio. Không lấy gì làm ấm ức về chuyện này có tới 90% mọi người không biết Pinturicchio là ai. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là Pinturicchio, dù chỉ là một chút liên quan nào đó, vì tôi không hiểu gì về nghệ thuật.

    Nhưng đã tìm hiểu và nhận ra rằng dù ông ta không được nhiều người biết đến nhưng ông có vai trò quan trọng trong lịch sử nghệ thuật. Trong các cuộc bán đấu giá, những bức vẽ của ông đã bán đến 2,5 tỷ Lia”. Quả là câu nói khôn ngoan, có vẻ như chính Del làm cho Pinturicchio được nhiều người biết đến khi lấy tên ông làm biệt hiệu.

    Bằng tài năng, rèn luyện với nghị lực mạnh mẽ, sự trở lại của Del sau thời gian chờ đợi của giới Cổ động viên thật ngọt ngào và nhiều hào hứng. Anh đã khiến người ta nghĩ đến một cái tên khác thay cho Godot – cái tên xuất hiện vào tháng 8-2000 cũng do ông Gianni Agnelli đặt cho anh. Godot là một nhân vật trong tác phẩm “Chờ đợi hoài Godot” của Samuel Bechett, một người hứa hẹn đến mà không bao giờ xuất hiện, nhất là vị chủ tịch Gianni, ông không phải chờ lâu.

    Godot đã đến trong phong độ đỉnh cao. Ông ta hẳn đang nghĩ tới một nick-name mới cho nhà kiến tạo Del như Michelangelo…chẳng hạn. Tuy nhiên với tài năng và nhữnh gì Del đạt được anh vẫn muốn được gọi anh bằng Alex Ale – cái tên mà những người yêu mến và bạn bè gọi anh từ nhỏ.

    Đôi mắt đăm đắm về phía trước, những bước sải chân cuốn tung mái tóc dài hung, xoăn tự nhiên dưới ánh đèn sáng chói của SVĐ đêm, Del có một sự quyến rũ mê hồn với tất cả các cổ động viên, nhất là các cô gái. Nhưng Del lại là một người rất e dè trong tình yêu. Trong các cuộc họp và tiếp cận giới thông tấn anh thường né tránh đề cập đến đề tài này “Tôi là người cẩn trọng trong cuộc sống riêng tư”.

    Khi mới đến Juve, anh đã rất mê mẩn Irene – cô nhân viên duyên dáng trong quầy bar của SVĐ Delle Alpi. Nhưng chẳng có ngọn sóng nào xảy ra. “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, tính e dè nhút nhát của Del bị cuốn phăng khi anh gặp Sonia Amoruso. Họ đã gắn bó với nhau gần ba năm nay.

    Cô luôn bên anh trong những thời gian khó khăn: sau Euro 2000, thời gian thi đấu căng thẳng sau sự ra đi của ông Gino…Họ chính thức xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng ngày 1-10-2001, tại lễ trao giải Oscar bóng đá. Sonia đứng bên Del hân hoan nhận giải thưởng Cầu thủ được yêu mến nhất Italia.

    Nếu trong bóng đá, Del là một cầu thủ tài năng thì trong lĩnh vực kinh doanh anh cũng không hề thua kém. Năm 1999, anh đã ký hợp đồng với tổ chức – CEPU bảo trợ giúp đỡ thanh niên trong kỳ thi Đại học, sao đó anh được nhận vào khoa Xã hội học, trường Đại học Urbino. Trước đây, Del đã từng đi làm một thời gian cho công ty kiểm toán sau khi tốt nghiệp trường kế toán cùng lúc với người anh trai (theo ý kiến của bố mẹ anh).

    Ngày 30-5-2000, anh được giới thiệu là người bảo trợ nhãn hiệu hãng máy tính Compact. Anh là người khá lãng mạn, thích sự rộng lớn của biển hơn vẻ cao hùng vĩ của núi, đặt biệt anh rất thích trời mưa và nhảy nhót. Anh đã mở một phòng khiêu vũ cùng với người bạn thân thiết cầu thủ Angelo DiLivio.

    Cho đến bây giờ dù rất nổi tiếng và giàu có, Alex vẫn sử dụng chiếc xe Lancia Delta Integrale màu xanh mà anh mua từ khoản tiền lương đầu tiên khi khoác áo sọc trắng – đen của Juve. Cuộc sống và sự nghiệp vẫn đang rộng mở ở phía trước Alex, Ale ale…

    Alessandro Del Piero
    Nơi sinh: Conegliano (Venelo)
    Ngày sinh: 9-11-1974
    Vị trí: Tiền đạo
    Nặng: 73kg
    Cao: 1m73
    Biệt danh: Ale, Alex, Pinturicchio, Godot
    Địa chỉ: c/o Juventus F.C. Piazza Crimea .710131 Torino, Italia.
    Sở thích:
    - Nghe nhạc Michael Jackson, Eros Ramazzotti, Phil Collins, Coolio, Venditti.
    - Bài hát “The Fun Monty” và “Men in Black”.
    - Món ăn: Hamberger Pháp, Cocacola.
    - Diễn viên:Ornella, Micheal Douglas, Sharn Stone, Demi Morre.
    Thành tích:

    Vô địch các quốc gia 1994-1995; 96-97
    Vô địch UFFA 95-96
    Vô địch Âu Mỹ 1996
    Siêu cúp châu Âu 96-97
    Vô địch Italia 94-95
    Siêu cúp các quốc gia 95-96
    Cầu thủ xuất sắc nhất UFFA 1998
    Cầu thủ xuất sắc nhất Italia 1998

    Các câu lạc bộ: Padova, Juventus





    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  8. #20
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Alessandro Nesta – Lặng lẽ Lazio


    Đẹp trai, tài năng, trầm tính, Alessandro Nesta được coi là một “bức tường” vững chắc, một vị trí không thể thiếu trong hàng phòng ngự của đội tuyển quốc gia Italia và CLB Lazio. Chàng tiền vệ trung tâm – đội trưởng CLB SS.Lazio – đã tạo nên sự thán phục bởi cách sắp xếp, di chuyển trong trận đấu, sự dẫn dắt bậc thầy, sự can thiệp sắc bén và chính xác trong từng đường bóng.

    Ngày 19-3-1976, tại bệnh viện Policlinico Umberto (Rome, Italia), cậu bé Alessandro Nesta nặng 4kg 100g chào đời. Bố mẹ cậu, ông Giuseppe và bà Maria Laura cùng hai anh trai Fernando và Katia chào đón cậu về ngôi nhà ấm áp của họ. Ông Giuseppe, một cổ động viên “nặng ký” của CLB Lazio, làm việc cho hãng xe lửa “Nuovo Salario”. Tình yêu Lazio của ông đã truyền cả vào ba cậu con trai, nhất là Nesta.

    Nesta bị tật nhỏ ở lưng, theo lời khuyên của bác sĩ anh nên tập một môn thể thao nào đó. Thế là Nesta chọn bóng đá. Vào buổi chiều hàng ngày, cậu bé thường chơi bóng cùng hai anh và những người bạn trong phố.

    Lớn một chút, ông Giuseppe đưa anh đến trường bóng đá ở Cinecitta. Tám tuổi, Nesta bắt đầu được chơi trong đội hình chính thức của trường. Khi đó không một ai nghĩ rằng cậu bé này sẽ trở thành nhất thế giới. Biết tin SS.Lazio đang tuyển một cầu thủ cho đội tuyển trẻ, Giuseppe lập tức nghĩ rằng đây là cơ hội của con trai mình, thế là ông dắt cậu đến SVĐ San Basilio (Stefanino).

    Khi đó sân vận động chật ních với hơn ba trăm người trẻ tuổi đến thi tuyển. “Đây đúng là một cầu thủ vĩ đại, đường bóng và những cú ngoắt bóng của cậu bé quá đẹp. Cậu bé đúng là một món quà thiên nhiên ban tặng cho trái bóng tròn” – Ông Felice Pulici hội đồng ban giám khảo nói, “Tôi hoàn toàn bị chinh phục trước lối chơi của cậu và tôi thích cái dáng ngẩng cao dắt bóng thật nhẹ nhàng” – ông HLV đội trẻ Volgango Patarca trầm trồ, rồi ông gọi ông Giuseppe lại nói “Ông không cần dắt cậu nhóc này đi đến bất cứ một CLB nào khác nữa”.

    Ba tuần sau, Nesta được luyện tập trong đội “Torneo Aquilotto” – đội tuyển đầu tiên cho các cầu thủ mới của Lazio. Ngày 12-3-1994, Zeman đưa cậu vào danh sách đội tuyển thi đấu Udinese. Nesta ngồi ghế dự bị cho đến phút thứ 33 của hiệp hai, anh được vào sân thay cho Casiraghi. Nesta đá trên sân trong mười hai phút, nhưng cũng từ mười hai phút ấy anh đã làm ông HLV hài lòng và không bao giờ để anh ngồi vị trí dự bị nữa.

    Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp đẳng cấp quốc gia của anh thực sự bắt đầu khi có sự thuyên chuyển giữa ông Zeman với ông Zoff. Nesta được Cesare Maldini phát hiện và đào tạo trong tuyển QG U21, sau đó ông HLV tuyển QG Sacchi gọi anh vào đội hình chính thức thay Ferrara bị thương.

    Cho dù rất xuất sắc trong những buổi tập nhưng Nesta vẫn chưa được ông Sacchi tin dùng bởi anh chưa có nhiều kinh nghiệm chơi trong sân lớn. Khi Zeman về thay Sacchi, Nesta được gọi vào đội hình một của Lazio từ sau lần ông Zoff nhìn thấy anh trong sân tập. Paul Gascoigne đang dẫn bóng lao như bay về phía Nesta. Anh giữ bóng lại rất cương quyết và không hề cố ý trong cú ngã quay của Paul Gascoigne. Ông Zoff đưa anh vào đội tuyển Italia thi đấu giải VĐ Châu Âu U21.

    Sau khi giúp Italia chiến thắng trong giải U21 châu Âu – anh lại tham gia Euro 1996. Độ tuổi 21 anh đã khởi động dựng được cơ đồ ở đất nước Italia cổ kính. Mặc dù là một hậu vệ nhưng Nesta lại là cây ghi bàn xuất sắc, những bàn thắng thường ấn định trong những trận đấu quan trọng.

    Bàn thắng đầu tiên anh ghi ở Lazio trong trận đấu với Guirmaraes vào phút thứ 79, mùa bóng ’97-98’ cúp UFFA. Cũng trong mùa bóng này Nesta “trao tay” Lazio chức vô địch Cup Italia bằng bàn thắng ghi vào lưới đội Milan phút thứ 66 và bàn thắng ghi ở phút 89 trong trận Lazio-Salernitanagiari (VĐ Italia Serie A ’98-99’).

    Ngày 3-7-1998, Nesta bị chấn thương ở chân trong trận đấu với Austria, vết thương quá nặng đã khiến anh phải nghỉ thi đấu gần sáu tháng. Thời gian nghỉ dưỡng thương quá lâu khiến người ta nghi ngờ việc anh sẽ trở lại thi đấu. Bằng những nỗ lực luyện tập kinh ngạc, anh đã khiến ông Eriksson gọi anh về đá trận gặp Inter trong khuôn khổ Cúp quốc gia Italia.

    Trở lại sân cỏ, Nesta bắt đầu làm nhạc trưởng, dẫn dắt đội Lazio đoạt siêu Cúp châu Âu và VĐ Italia lần thứ ba, mùa bóng ‘1999-2000’. Nesta khoác áo số 13 trong cả tuyển Italia và Lazio. Với người Italia số 13 là một con số may mắn.

    Nesta là một cầu thủ được yêu mến trong và ngoài sân cỏ. Nesta hoàn toàn xứng đáng với băng đội trưởng, anh thực sự là người lãnh đạo có năng lực và có thể đại diện cho toàn đội. Người ta coi anh là biểu tưởng của Lazio và thành Rome. Vào thời điểm hiện nay Nesta có thể theo bước Luis Figo, Zidane.

    Anh là đối tượng nhắm tới số một của rất nhiều CLB nước ngoài, họ sẵn sàng trả anh những khoản tiền kếch xù để thấy anh vùng vẫy trong đội hình của họ. Các dòng chữ “Nesta có thể sẽ bị bán”, “Inter muốn Nesta” “Juventus gợi ý một khoản tiền lớn”…trên các tít báo lớn thường xuyên xuất hiện. Real Marid đã từng tuyên bố sẽ chi 85 triệu USD – một cái giá chưa từng có với bất kỳ cầu thủ Italia nào, để “mượn” anh về.

    Tuy nhiên xem ra những khoản tiền này có vẻ vô duyên vì nó không được chấp nhận. Đơn giản là vì “anh không phải để buôn bán” (ông chủ tịch CLB Lazio tuyên bố). Quan trọng hơn hết là với Nesta “Tôi không thể rời xa mái nhà và những thói quen của tôi.

    Nơi tôi ăn sáng hàng ngày cùng những người bạn ở Rome. Và khi tôi có con tôi muốn chúng học tiếng Italia, hiểu biết tất cả văn hóa của chúng tôi và việc rời Rome, rời xa tình yêu Lazio không thể vì tiền bạc. Tiền bạc không thể làm cho mọi thứ trở nên cân bằng”. Và người Lazio, tất cả đều mong muốn có Nesta.

    Trong chuyện riêng tư, Nesta cực kì kín đáo. Anh có mối quan hệ gắn bó thân thiết với cô nàng Gabriella xinh đẹp, con gái ngài Pagnozzi đã nhiều năm nhưng hầu như giới báo chí không xâm nhập nghe ngóng được những câu chuyện của họ. Nesta nói: “Khi đá bóng tôi không nghĩ đến một điều gì khác ngoài việc thực hiện nỗ lực nhất trách nhiệm của một cầu thủ và đội trưởng trên sân đối với những người ủng hộ chúng tôi".

    Còn khi trận đấu kết thúc những gì tôi làm trong cuộc sống riêng tư thì chỉ dành riêng cho một mình tôi không cho một ai khác.” Người ta cho rằng anh sẽ cưới Gabriella trong thời gian sắp tới nhưng Nesta lại nói “Chưa phải lúc".

    Đối với một cầu thủ bóng đá điều quan trọng là phải tìm được một cuộc sống hòa thuận bình yên và ấm áp. Cô ấy có thể ở nhà chờ mình về sau buổi luyện tập hay thi đấu vất vả thay cho việc ra phố hóng mát. Như thế mới thật là điều hạnh phúc và may mắn.” Nesta có một quan điểm thật rõ ràng và giản dị. Và anh là một người hạnh phúc.

    Nesta và Cannavaro được xem là cặp bài trùng – hậu vệ, của tuyển Italia. Giống như cặp Martin Keown và Sol Campbell. Họ có sự tương trợ rất vững chắc. Khi Nesta không cản được Patrick Kluiver trong trận đấu với Hà Lan, Cannavaro lập tức xuất hiện, họ chia sẽ nhau chàng tiền đạo xứ hoa Tuy – luýp một cách nhẹ nhàng phối hợp. Khi được hỏi ai là hậu vệ xuất sắc trong Euro 2000, không chút ngập ngừng Cannavaro nói “Sau tôi và Nesta, tôi nghĩ đó là người đàn ông Pháp Thuram”.

    Tuy nhiên ở Rome, nếu để đem ra so sánh người ta thường đưa Nesta và Francesco Totti lên bàn cân. Một người là đội trưởng đội AS. Roma – kẻ thù không đội trời chung của Lazio và ngược lại. Totti và Nesta thân thiết từ nhỏ, cùng đi lên từ một đội bóng rồi lại tách làm hai ngả nhưng họ vẫn có điểm chung là vị trí trong đội tuyển quốc gia. Có biệt danh là Romulus và Remus – tên hai người anh em sinh đôi đã kiến thiết và khám phá Rome – Francesco Totti và Alessandro Nesta giống như hai mặt của một đồng tiền xu.

    Cùng sinh năm 1976 và xuất thân từ hai thành phố phía Nam của Roma, Totti từ Porta Metronia, Nesta từ Cinecitta. Một người ghi danh từ những đường bóng tấn công ghi bàn, một người nổi tiếng cản phá những đường bóng thần tốc. Totti nghịch ngợm phá phách, Nesta lại lặng lẽ. Cái màu vàng hoe của Totti đối nghịch với cái màu xám của Nesta.

    Giờ đây họ là hai cầu thủ giàu có nhất Italia và cả hai đều ký hợp đồng mới với đội bóng xem là ăn đời ở kiếp với mình. Totti được bốn triệu bảng một năm sau khi trừ thuế và một “túi” quyền lợi, còn Nesta được 2.84 triệu bảng mỗi năm. Hai bảng hợp đồng này kéo dài đến năm họ 30 tuổi.

    Là hai đội trưởng của hai đội bóng thù địch nhưng lại là một cặp không thể thiếu trong tuyển Quốc gia Italia. Trong khi Totti phá phách sân trên thì Nesta cẩn trọng trông nom phần sân dưới. Totti luôn ao ước có Nesta ở AS.Roma còn Nesta thì khăng khăng “Tôi muốn chơi bóng cho Lazio”. Từ năm anh chín tuổi, khi ấy CLB Cinecita đầu tiên của anh đã nhận 5000 bảng của Roma để “xin” Nesta về, nhưng Nesta đã từ chối.

    Đã hai lần tưởng như Nesta sẽ rời Lazio, anh đã ký hợp đồng với Atletico Madrid với một khoản lương kếch xù, nhưng rồi “bí mật thành công của Lazio” không thể rời xa cơ thể của mình được.

    Anh là một trong số những cầu thủ ít ỏi hiện nay không chạy theo thị trường chuyển nhượng bóng đá, một người lao động bóng đá chân chính và bình dị dù anh rất giàu có. Sau Paolo Maldini, Nesta là một thành viên được coi là không thể thay thế trong hàng phòng ngự của tuyển Italia.

    Nesta tự khẳng định là một hậu vệ hàng đầu Serie A và thế giới. Anh có sức mạnh ở tốc độ, thể lực ổn định, bền bỉ và khả năng kèm chặt, cản phá làm đối phương tự ngã rất điêu luyện. Đến với Lazio từ năm 12 tuổi cho đến bây giờ Alessandro Nesta vẫn đang ở Lazio trong một tình yêu lớn.

    Alessandro Nesta
    Sinh ngày: 19-03-1976
    Nơi sinh: Rome (Italia)
    Biệt danh: Remus
    Cao: 187cm
    Nặng: 79kg
    Vị trí: Hậu vệ
    Số áo: 13
    CLB: Lazio (Italia)
    Sở thích:
    Diễn viên Demi Morre, Alberto sordi
    Màu đen và món Gnocchi
    Chơi tenis, xem bóng đá.
    Thành tích:
    - Vô địch Serie A năm 2000
    - Cúp Italia 1998 và 2000
    - Cúp các đội đoạt Cúp châu Âu (C2 trước đây) 1999
    - Siêu Cúp châu Âu 1999
    - Vô địch Cúp Hy vọng châu Âu (giải trẻ) 1996

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  9. #21
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Thierry Henry “khẩu thần công” sẵn sàng nhả đạn

    Chuyện của Henry là câu chuyện về một chàng trai 25 tuổi, một ngôi sao bóng đá với những khả năng ghi bàn kỳ diệu. Nhanh nhẹn, dẻo dai và cực kỳ lợi hại trong những pha đua tốc độ, Henry đã trở thành trụ cột của Câu lạc bộ Arsenal và đội tuyển Pháp.

    Thierry Henry sinh này 17/08/1977 trong một khu phố thuộc Les Ulis nước Pháp. Ngay từ khi mới chào đời, cậu bé Titi (tên thân mật của Henry) đã được người cha cho làm quen với trái bóng. Cha cậu, một người nghiêm khắc, đã đặt kỳ vọng cả đời vào đứa con. Vì thế ông luôn áp đặt một kỷ luật thép để định hướng sự nghiêp cầu thủ của Henry. Suốt ngày cậu bé chỉ biết học và học: chữ ở trường và bóng đá trên sân. Cũng giống như những đứa trẻ khác, ngoài thời gian tới trường, Henry lại rong ruổi trên những mảnh sân chật hẹp trong khu phố với trái bóng trong chân. Trong những trận bóng khu phố, Titi luôn nổi bật nhờ kỹ thuật cá nhân, tốc độ và khả năng tận dụng cơ hội ghi bàn.

    Năm 1992, tài năng của Henry đã lọt vào mắt các huấn luyện viên của Câu lạc bộ Monaco. Anh đã chính thức được “ký tên” học việc tại câu lạc bộ. Những năm đầu thập niên 90, As Monaco là một thế lực mạnh của nước Pháp với những siêu sao sân cỏ như Jurgen Klismann và Enzo Scifo. Khi Monaco đoạt chức vô địch quốc gia 1993, Henry chỉ là một cầu thủ tập sự chuyên đánh giày cho những cầu thủ chuyên nghiệp. Nhưng anh cùng với David Trezeguet, Willy Sagnol… được coi là những cầu thủ tương lai của Monaco.

    Năm 17 tuổi, Henry được đưa lên đội hình chính thức với tư cách cầu thủ dự bị. Tuy vậy anh và Trezeguet cũng kịp chứng tỏ tài năng của mình với huấn luyện viên Asene Wenger. Ông nhận xét: “Thierry và David là một tài sản quý của bóng đá Pháp. Chắc chắn họ sẽ còn tiến xa.” Khi ấy, Henry được đá cặp với tiền đạo người Braxin, Sony Anderson. Theo anh, chính Anderson là một trong những người có ảnh hưởng nhất đối với lối chơi của anh. Còn Sony thì ca ngợi người đồng đội trẻ của mình: “Tốc độ của Henry thật tuyệt vời, anh luôn làm hậu vệ đối phương phải hụt hơi”.

    Mọi chuyện bắt đầu từ khi HLV Wenger ra đi và Jean Tigana lên thay. Cựu tiền đạo nổi tiếng của bóng đá Pháp này đã tạo nên sự thay đổi lớn ở Monaco khi có kế hoạch đưa vào đội hình chính thức nhiều cầu thủ trẻ. Đương nhiên Henry chiếm được một suất trên hàng tấn công của câu lạc bộ cùng với Trezeguet và anh đã không làm mọi người phải thất vọng, với 15 bàn thắng Henry đã cùng với Monaco đoạt chức vô địch bóng đá Pháp năm 1997. Anh cũng được dẫn dắt hàng công của đội tuyển U20 Pháp dự giải vô địch thế giới thanh niên 1997 tại Malaysia.

    Tuy không thật sự nổi bật nhưng các CLB hàng đầu Châu Âu đã bắt đầu ngắm nghía anh, còn HLV đội tuyển quốc gia Jacquet coi anh như một nhân tố mới trong chiến dịch chinh phục Cúp thế giới. Với phong độ chói sáng tại Monaco, cùng lúc với sự sa sút trầm trọng của P.Loko và Lilian Laslandes, Henry được gọi đến đội tuyển quốc gia tham dự France 98. Henry quả quyết: “Không một cầu thủ nào chỉ cần chạy và sút bóng là có thể tham gia đội tuyển Pháp. Con đường duy nhất đó là lao động.”

    Tại France 98, Henry thực sự tạo nên một sức sống mới cho hàng tấn công của Pháp. Với 3 bàn thắng ghi được, anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của đội tuyển Pháp tại giải. Ở tuổi 21, Henry đã trở thành nhà vô địch thế giới sau khi cùng đồng đội đại thắng Brazin 3-0 trong trận chung kết.

    Sau chiến thắng tại France 98, mặc dù vẫn muốn ở lại Monaco nhưng Henry và ban lãnh đạo CLB không thể cưỡng lại được lời chào mời quyến rũ từ “Lão bà thành Turin” Juventus. Một bản hợp đồng được ký kết và Henry lại được chiến đấu trong một mặt sân khác - Calcio, giải vô địch khắc nghiệt nhất trên thế giới. Mọi chuyện tưởng như diễn ra tốt đẹp cho chàng trai trẻ Thierry Henry tại Juventus, Henry phải cạnh tranh quyết liệt với cặp tiền đạo lừng danh Del Piero - Inzaghi. Anh luôn bị HLV Carlo Ancelotti “đày” trên ghế dự bị. Sự nghiệp cầu thủ thực sự xuống dốc vì không được ra sân hoặc nếu ra sân thì lại phải đá dạt sang bên cạnh, một vị trí không hề ưa thích của anh.

    Đúng lúc đó, HLV Wenger của Arsenal đã cứu Henry thoát khỏi tình trạng tồi tệ. Một bản hợp đồng trị giá 15 triệu USD đã đưa anh về sân Highbury. Như trút được gánh nặng, Henry đã chơi bóng cực kỳ xuất sắc. Anh nhanh chóng thích nghi với bóng đá Anh và chiếm một suất trên hàng tấn công của: “Thùng thuốc súng” và “khẩu thần công” mới đã thực sự phát hỏa với 2 bàn thắng ngoạn mục vào lưới Derby County ngày 29-11-1999. Ông Wenger hớn hở: “Đầu mùa bóng, Henry mất tự tin và hơi xuống phong độ. Tôi đã phải nói chuyện với cậu ấy. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào khả năng ghi bàn của Henry. Thật là tuyệt vời”. Còn Henry, sau những ngày tháng khó khăn đã thực sự tìm lại cảm giác ghi bàn, anh tiết lộ rằng chính Ian Wright là người giúp anh là được điều đó.

    Anh nhớ lại: “Trong trận đấu tôn vinh Dyxon, Keown kéo tôi ra một góc và chỉ cho tôi cách di chuyển không bóng của Wright, cách mà anh ấy ngoặt, đổi hướng làm lỡ chớn các hậu vệ đối phương. Keown khuyên tôi nên cố học theo Wright. Đó là một lời khuyên chân thành và có tính xây dựng.”

    Trong mùa bóng 1999-2000, Henry đã thực sự bùng nổ, tốc độ và kỹ thuật khéo léo của anh đã giúp Arsenal bám đuổi quyết liệt với Manchester United. Anh làm cổ động viên sân Highbury nhớ lại Anelka, kẻ đã đào ngũ sang Real Madrid và họ lo sợ Henry cũng sẽ bỏ đi. Nhưng anh khẳng định: “Tôi yêu Arsenal, yêu sân Highbury, yêu truyền thống của CLB và những cảm xúc ở đây. Tôi sẽ không bao giờ bỏ đi. Tôi muốn thực hiện hết hợp đồng với Arsenal.”

    Dĩ nhiên là ông Roger Lemere, huấn luyện viên trưởng đội tuyển Pháp không thể không quan tâm đến phong độ của Henry. Khi anh gặp khó khăn tại Juventus vị trí của anh tại đội tuyển bị đe dọa, anh ít khi được ra sân trong những trận đấu vòng loại Euro 2000. Sự sa sút của Henry cũng đúng lúc với sự sa sút của đội tuyển Pháp. Các nhà vô địch thế giới đã chơi hết sức tệ hại trước các đội bóng “hạng xoàng” như Andona, Iceland và Acmenia tại vòng loại Euro chỉ có may mắn mới giúp họ đoạt vé chính thức, nhiều người cho rằng nguyên nhân là do sự vắng mặt của Zidane và Henry.

    Ông Roger Lemerre tin tưởng việc Henry chuyển đến Arsenal sẽ giúp anh lấy lại phong độ và đạt đến đỉnh cao. Cuối cùng thì ông Wenger và ông Lemerre đều không lầm, Henry đã khẳng định tài năng của mình và một vị trí trên hàng tiến công của đội tuyển Pháp tại Euro 2000 là điều không phải bàn cãi. Henry có thể phối hợp ăn ý với cả Wiltord và Trezeguet trên hàng tiền đạo.

    Tại Euro 2002, ông Lemerre thường xuyên sử dụng cặp tiền đạo Henry- Wiltord, và chính Henry đã làm người ta quên đi định kiến hình ảnh của đội Pháp luôn thiếu vắng chân sút. Tốc độ của anh là nỗi kinh hoàng của các hậu vệ đối phương. Cú bứt phá nước rút từ cánh trái vượt qua một loạt hậu vệ Đan Mạch và một động tác sửa bóng cực kỳ kỹ thuật bằng chân phải anh đã hạ gục thủ môn dày dặn kinh nghiệm Peter Smeichel. Với 4 bàn thắng, Henry trở thành một trong những chân sút đáng sợ nhất tại giải và anh được xếp vào đội hình tiêu biểu. Đội tuyển Pháp của anh một lần nữa bước lên đỉnh vinh quang: đoạt chức vô địch Châu Âu lần thứ hai. Với những đóng góp của mình, Henry được bầu làm cầu thủ xuất sắc nhất nước Pháp, vượt qua cả nhà kiến thiết Zidane.

    Trở về Arsenal sau những thành công tại Bỉ và Hà Lan, Henry tiếp tục thể hiện phong độ đỉnh cao giúp Arsenal lọt vào bán kết cúp C1 Châu Âu và ganh đua quyết liệt với M.U tại Priemier League. Từ vị trí tiền đạo cánh, anh được ông Wenger xếp đá trung phong. Sự vắng mặt của Denis Bergkamp đã giúp Henry luôn được giao nhiệm vụ đá phạt trực tiếp, kể cả Penalty. Khả năng đá phạt của anh ngày càng hoàn thiện và độ chính xác ngày càng cao.

    Bước vào mùa bóng 2001-2002, Henry được coi là quân bài chủ lực của ông Wenger trong chiến dịch lật đổ ngôi vị độc tôn của Manchester United. Với bộ khung gồm 4 tuyển thủ quốc gia Pháp: T.Henry, P.Viera, Robert Pires và Silvain Wiltord cộng với sự tăng cường trung vệ đội tuyển Anh Sol Cambell, Asenal trở thành một đội bóng có chất lượng và sức chiến đấu cao. Dĩ nhiên là ông Wenger và các học trò cũng như các cổ động viên của sân Highbury sẽ vô cùng thất vọng nếu họ lại tiếp tục trắng tay lần nữa.

    Thế nên trận thắng M.U 3-1 với 2 bàn của Henry ở giai đoạn đầu của mùa giải thực sự là một đòn mạnh giáng vào tham vọng của “Những con quỷ đỏ” và là một liều thuốc tinh thần vô cùng quan trọng cho các cầu thủ Asenal. Phong độ chói sáng của Henry đã giúp Asenal lập được một kỷ lục mới của giải Ngoại hạng Anh. Trong trận gặp Southamton, “những khẩu thần công” đã trở thành CLB ghi bàn trong 25 trận liền. Trong bảng xếp hạng hiện nay, Asenal đã chễm chệ trên ngôi đầu bảng.

    Không những thế họ còn lọt vào trận chung kết FA Cup gặp Chelsea. Các CĐV hoàn toàn có thể hi vọng CLB yêu quý của họ sẽ đoạt các Cup vào cuối mùa giải này. Với 22 bàn thắng, Henry đang dẫn đầu danh sách Vua phá lưới. Và anh là một trong những ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu “Chiếc giày vàng Châu Âu” cùng với người bạn thân của mình là Trezeguet đang chơi cho Juventus mùa bóng năm nay.

    Rõ ràng là HLV Roger Lemerre đang phải đau đầu trong việc tìm ra giải pháp hữu hiệu cho hàng tấn công của đội tuyển Pháp vào thời điểm hiện nay. Cả Henry và Trezeguet đều đang đạt phong độ đỉnh cao trong màu áo Asenal và Juventus. Chọn ai trong hai người vào vị trí trung phong quả là bài toán hóc búa. Hợp hai tên tuổi sáng chói này vào trong một đội hình ra quân thì hiển nhiên họ là một cặp tiền đạo mơ ước cho bất kỳ một huấn luyện viên nào, nhưng chiến thuật của toàn đội lại có vẻ không thích hợp cho cùng một lúc hai trung phong xuất sắc nhất hợp lại với nhau.

    Điều này cũng trở thành vấn đề tương tự như trường hợp Bastistita và Herman Crespo của Argentina. Rất có thể Henry có nhiều khả năng nhận được vị trí chính thức vì sự ăn ý giữa anh và Silvain Wiltord tại Asenal. Nếu như người ta tìm thấy ở David Trezeguet sự tinh quái và lọc lõi trong những pha dứt điểm thành bàn thắng mà anh đã trưởng thành thực sự trong những ngày tháng chơi tại Serie A thì Henry lại có những pha dốc bóng bên cánh trái rồi bất ngờ quặt vào trung lộ để tìm bàn thắng hoặc tạo ra những cơ hội thực sự cho đồng đội ghi bàn. Nhìn cách đi bóng, dắt bóng của Henry, khó có cầu thủ hậu vệ nào có thể ngăn cản được anh. Phải thừa nhận rằng, đội tuyển Pháp ngày nay có một hàng tiền đạo đáng sợ mà hầu hết trong số họ đã thực sự tìm được cách chơi bóng hữu hiệu nhất khi ra nước ngoài thi đấu.

    Khác với tính cách mạnh mẽ và đôi lúc thiếu kiềm chế trên sân cỏ, ngoài đời Henry là một chàng trai điềm tĩnh và dễ mến. Anh luôn sống kín đáo và không thích đánh bóng hình ảnh mình trên phương tiện truyền thông. Sau những buổi thi đấu, luyện tập, anh thường chơi bóng rổ, môn thể thao mà anh yêu thích sau bóng đá và nghe nhạc. Anh tâm sự: “Tôi yêu cuộc sống tại Asenal. Với tôi không có một nơi nào tốt hơn nơi này”. Với anh, London chính là nơi có thể tận hưởng cuộc sống riêng tư của một cầu thủ. Là nơi anh có thể bày tỏ một cách rất “hồn nhiên” cảm xúc của mình sau những pha ghi bàn vào lưới của đối phương.

    Còn đối với các cổ động viên, anh cảm nhận thấy rằng họ thật đáng yêu. Anh kể: “Họ không soi mói vào một cá nhân cầu thủ nào mà chỉ muốn ủng hộ để đội bóng của họ đạt được thành tích tốt nhất”. Và: “Nếu ban lãnh đạo muốn tôi ký vào bản hợp đồng gắn bó cả sự nghiệp cầu thủ của tôi tại đây, chắc chắn tôi sẽ làm mà không nghĩ lại.”

    Sau những giải đấu căng thẳng, Henry thường đi nghỉ cùng với cô bạn gái của anh, siêu người mẫu Noemie Lenoir. Thỉnh thoảng anh cũng về thăm ông bà ở xứ Antilles và tận hưởng cuộc sống bình lặng không có bóng đá. Anh cũng luôn liên hệ với bạn vè, nhất là David Trezeguet, đồng đội cũ của anh ở Monaco.

    Trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống, Henry luôn tự nhắc nhở mình: “Một sự nghiệp, cũng như một bảng vàng, không phải tự nhiên mà có được. Tôi đã phải lao động cật lực mới có. Bản thân tôi đã phải trải qua một thời kỳ khó khăn, nhiều tuần không được đụng đến trái bóng. Những lúc như thế, tôi chỉ ra sức làm việc nhiều hơn, mà không hề oán trách”. Quả thật nếu nhìn vào những gì mà anh đạt được trong sự nghiệp, thì Henry quả là một tấm gương đáng để cho các cầu thủ trẻ học tập.
    Biệt danh: Titi
    Sinh ngày: 17-08-1977
    Quốc tịch: Pháp
    Nơi sinh: Paris
    Chiều cao: 188cm
    Cân nặng: 83kg
    Vị trí: Tiền đạo

    * Các CLB đã thi đấu:
    Monaco (Pháp)
    Juventus (Italia)
    Arsenal (Anh)

    * Thành tích:
    Vô địch thế giới 1998
    Vô địch châu Âu 2000
    Vô địch Pháp với Monaco
    Cúp FA 2002 với Arsenal

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  10. #22
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Luis Figo - Người Bồ Đào Nha ở Madrid

    Sở hữu kỹ thuật cá nhân siêu đẳng cùng với lối đi bóng dũng mãnh… Luis Figo được thừa nhận là cầu thủ hàng đầu thế giới. Khôn ngoan, óc tổ chức tốt, giờ đây anh là trụ cột, là trái tim của “cơ thể” Bồ Đào Nha, là thần tượng của hàng triệu người hâm mộ trên toàn thế giới.

    Sinh ra trong gia đình công nhân ở Almada thủ đô Lisbon (Bồ Đào Nha) nhưng Luis Figo lại thuộc về bóng đá. Anh ham mê, vui đùa với trái bóng từ khi mới chập chững biết đi. Năm chín tuổi Figo bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp trên các đường phố ở Os Pastilhas, chuyên thi đấu với các đội bóng phố hàng xóm. Figo nhỏ con nhất nhưng hầu như không có trận đấu nào vắng mặt anh. Năm 11 tuổi, anh đăng ký tham gia CLB Sporting Lisbon của thành phố. Nơi đây anh bắt tay khởi nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp chính thức và bắt đầu gặt hái những vinh quang đầu tiên, mở ra con đường tươi sáng tới những ngôi vị đẳng cấp cao trên bầu trời sao bóng đá thế giới.

    Năm 1989, đánh dấu một mốc son mở đầu trang sử về tài năng huyền thoại, cậu bé Figo 16 tuổi lần đầu tiên được đứng vào đội hình chính thức của câu lạc bộ và nhanh chóng được đưa vào đội tuyển quốc gia U16. Và cậu đã nhanh chóng có được thành quả đầu tiên trong sự nghiệp cầu thủ khi cùng các đồng đội mang về chiếc cúp vô địch thế giới U16. Hai năm sau, trong đội hình đội tuyển quốc gia U20 BĐN, anh lại nhận danh hiệu VĐ là thời kỳ huy hoàng của bóng đá Bồ Đào Nha với những tên tuổi xuất chúng như Figo, Rui Costa, Pinto…

    Mùa bóng 1991-1992, Figo trở thành nhân vật trung tâm thu hút sự chú ý của khán đài sau vài đường bóng thiết kế rất ngoạn mục. Táo bạo, chính xác và hết sức hiệu quả, Figo như con thoi hâm nóng tinh thần chiến thắng cho đồng đội, làm sôi động cầu trường. Anh thực sự được biết đến và tuyển mộ nhiều fan hâm mộ từ đây.

    Mùa bóng 1994-1995, Figo ra sân với băng đội trưởng trên tay, vị nhạc trưởng 23 tuổi, trẻ nhất trong các dàn nhạc tham gia giải VĐQG Bồ Đào Nha. Người nhạc trưởng trẻ tuổi nhất trong các đội tuyển tham gia giải VĐQG 1994-1995 đã chỉ huy đội kèn trống Lisbon đoạt ngôi VĐQG cùng với chiếc cúp vàng và giữ vương miện này cả mùa bóng sau 1995-1996.

    Dưới sự lãnh đạo của anh, đội bóng là một mái nhà của tinh thần đồng đội với một khát khao chiến thắng lớn. Hơn 10 năm trong màu áo của Sporting Lisbon, Figo chịu ảnh hưởng và sự rèn giũa rất khắt khe của huấn luyện viên Carlos Queirz. Nếu như Figo được chúa trời chỉ định là tài năng bóng đá thì Carlos Queirz chính là vị thiên sứ chọn và cân nhắc dìu dắt đường đi nước bước của anh. Ông đã đưa anh vào đội tuyển quốc gia để từ đó bước vào làng bóng đá sôi động đẳng cấp với những ngôi vị quốc tế đầu tiên. Vị thiên sứ Carlos Queirz của Luis luôn tự hào về quyết định của ông.

    Sau mùa giải 1995- 1996, Figo quyết định mở rộng con đường đến với những giải bóng lớn, anh từ giã Lisbon và ký hợp đồng ngắn hạn 2 năm với cả hai CLB Juventus và Parma. Sự kiện này làm xôn xao dư luận, là chủ đề đề các tít báo lớn ở Lisbon, FIFA lập tức can thiệp và cấm Figo chuyển sang Italia trong khoảng thời gian hai năm đó, kế hoạch hoàn toàn thất bại.

    Tuy nhiên chính điều này đã dọn đường cho anh tới Barcelona. Khi quyết định rời Lisbon, Barca không nằm trong danh sách lựa chọn của Figo. Nhưng các phương án dự định không thành, Figo chưa có kế hoạch mới thì Barca chụp ngay lấy anh với bản hợp đồng chuyển nhượng 1.4 triệu bảng.

    Figo cho rằng chính số phận đã đưa anh tới Barca. Mới chuyển sang Barca, Figo như bước vào một thế giới hoàn toàn mới, mọi thứ điều thay đổi, anh chỉ quen thuộc duy nhất số 7 trên áo. Với Figo số 7 là số quen thuộc truyền thống anh mặc từ khi bắt đầu tham gia các đội trẻ của Sporting. Trong hệ thống chiến thuật của Barca không có vị trí tiền vệ trung tâm cho Figo, HLV Johan Cruyf- một cầu thủ đã từng khuynh đảo sân cỏ thế giới, đứng vị trí thứ ba trong top mười cầu thủ lớn nhất thế kỷ XX với 33 bàn thắng trong 48 trận của đội tuyển QG Hà Lan, chuyển anh sang vị trí cánh thay vị trí tiền vệ trung tâm anh thường đảm nhiệm ở CLB cũ.

    Từ đó trở đi Figo được ngưỡng mộ và nhanh chóng trở thành một tiền đạo giỏi nhất thế giới. Hết sức khâm phục ông Cruyf, anh nói “Cruyf là một trong những HLV giỏi nhất mà tôi gặp. Carlos Queirz và Johan Cruyf là 2 HLV có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự nghiệp của tôi. Ở Barca, Luis Figo chính là cầu thủ mà các đối thủ của Barca không muốn thấy trên sân cỏ. Tuy có một chút khó khăn làm quen bước đầu, nhưng Figo đã nhanh chóng hòa nhập với đồng đội. Dù Barca có nhiều tài năng thì cầu thủ người BĐN này vẫn luôn nổi trội, anh luôn có những quyết định trong những trận đấu quan trọng với một khát vọng chiến thắng vô bờ. Chẳng bao lâu sau anh lại nắm giữ vai trò thủ quân mang về cho CLB xứ Catalan hai danh hiệu vô địch, hai cúp quốc gia, một cúp C2 (1997), một siêu cúp châu Âu (The European Super Cup) và một siêu cúp TBN (1998-1999), hai cúp vô địch TBN (1997-1998) qua 5 mùa bóng.

    Đổi lại Barca dành cho anh một sự ưu đãi hiếm thấy. Sau khi bản hợp đồng hiện tại kết thúc ngày 1-7-2002, Luis có thể ở lại với Barca đến khi nào anh muốn với số lương 20 triệu quan pháp sau khi đã trừ thuế, cộng với khoản hỗ trợ 2 triệu quan hàng năm. Và ngày anh trở về quê hương, Barca sẽ tặng anh món quà từ biệt 20 triệu quan. Có phải Luis được cưng chiều quá không? Ở Barca, dù trong triều đại ông Cruyf hay ông Vangal, chàng hoàng tử Figo luôn được đứng trong đội hình chính thức của CLB.

    Không có sự ưu đãi cưng chiều nào mà chỉ vì “tôi xứng đáng với điều đó”- Figo nói: “Tôi là một người thực tế và tôi sống với hiện tại, tôi luôn được chơi trong đội hình chính thức nhưng thành tích đã qua không đóng vai trò gì trong việc này. Tôi luôn ý thức rằng người ta sẽ không cần tôi khi tôi không ở trong phong độ tốt nhất. Điều mà tôi cần làm là thi đấu cố gắng để dành được sự tin cậy của HLV. Tôi cảm thấy rằng tôi có thể chơi tốt hơn nữa sau mỗi trận đấu nên việc cần làm là nâng cao trình độ của mình mỗi ngày, tôi cần làm cho mọi người cảm thấy như tôi”. Figo đúng là tinh thần và vật chất của Barca, một con át chủ bài quý giá xứng đáng để trông cậy, gửi gắm và dễ hiểu với những sự ưu ái và yêu mến mà Barca dành cho anh.

    Figo là trái tim của xứ Catalan “giang hồ” và kiêu hãnh. Nơi có đại bản doanh của một hội cổ động viên Barca - một nhà hàng kiểu Nhật Bản mang tên Figo. Mối gắn bó chung thủy giữa anh với Barca tưởng không có gì thay đổi được. Figo có một thể lực tuyệt vời và một trình độ cá nhân tinh tế đến siêu việt, anh luôn thực hiện hoàn hảo những mong đợi của giới cổ động viên Barca và đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha.

    Ở mùa bóng 2000, trong màu áo đội tuyển quốc gia BĐN tham gia Euro 2000, Figo tạo nhiều “cơn lốc” gây những ấn tượng mạnh với các fan hâm mộ. Anh chơi thuyết phục đến nỗi khi có ý kiến thăm dò ai sẽ là cầu thủ xuất sắc nhất trong những ngày tranh hùng tại Bỉ và Hà Lan do các chuyên gia bóng đá thế giới đưa ra thì câu trả lời là Luis Figo chiếm 80%.

    Có lối đá thiên về kĩ thuật mà không quá lạm dụng; mạnh mẽ dứt khoát mà không thô bạo; hào hoa quyến rũ mà trầm lặng và cực kỳ sắc xảo hiệu quả. Cú sút từ 25m khiến thủ môn D. Seaman (Anh) chỉ còn biết đứng nhìn, chính là điểm khởi đầu cho sự bùng nổ rực rỡ của Figo cũng như tạo nên một hiện tượng BĐN-Euro 2000. Đây là bàn thắng đẹp nhất của anh - “bàn thắng kết hợp cả sự may mắn và tài năng”.

    Trong trận tứ kết gặp Thổ Nhĩ Kỳ dù đá trên chân nhưng đội tuyển BĐN hầu như bế tắc không lọt được vào vùng cấm địa đối phương, Figo đã tạo nên nhiều cú đột phá và những đường chuyền nhanh như chớp, “làm tình làm tội” hàng phòng ngự của Thổ Nhĩ Kỳ. Anh liên tục đảo cánh và hai đường chuyền hủy diệt cho Nuno Gomes đưa bóng vào lưới Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ số 2-0 đưa BĐN vào tứ kết gặp đội tuyển Pháp.

    Sau những gì chứng kiến ở vòng loại và tứ kết, hậu vệ Pháp, Frank Leboeuf đã gây ngạc nhiên cho không ít các tuyển thủ Pháp khi cho rằng “cho đến thời điểm này Figo là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới xa hơn Rivaldo và nhiều cầu thủ khác”. Anh tỏ ra lo ngại cho đội tuyển Pháp “không may cho chúng tôi, BĐN có quá nhiều cầu thủ tài năng nên trận tứ kết tới sẽ khó khăn”. Quả thật là vậy, Pháp cực kỳ chật vật và vất vả gỡ hòa vào phút 55 và may mắn được hưởng quả 11m do bóng chạm tay hậu vệ Abel Xavier.

    Figo đã góp phần tạo nên hiện tượng BĐN ở Euro 2000. Bóng đá BĐN được “lên hương” còn Figo ôm về quả bóng vàng châu Âu đầu tiên kể từ khi cầu thủ huyền thoại của BĐN Eusebio đoạt được năm 1965.

    Năm 2000 là một năm sáng chói của Figo trong hai màu áo BĐN và Barca. Anh đã làm cho hội cổ động viên Barca sướng phát điên và được độc giả tạp chí World Soccer- tạp chí bóng đá lớn nhất Anh, bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 2000, sau anh là nhạc trưởng đội Pháp Zidane. Mối gắn bó chung thủy giữa anh với Barca cùng hội cổ động viên tưởng không có gì thay đổi được.

    Tuy nhiên niềm hưng phấn dạt dào của hội cổ động viên Barca chẳng được bao lâu khi một canh bạc “không được chúa trời tha thứ” đã xảy ra vào hồi tháng 7 năm đó khiến họ không muốn nhắc tên Figo nữa, thậm chí không muốn nhìn thấy bất cứ thứ gì gợi nhắc đến Figo trong đại bản doanh nhà hàng kiểu Nhật Bản ấy.

    Figo của họ đã dứt áo ra đi và đến với CLB Real Madrid kẻ thù không đội trời chung với Barca. Figo sẽ nhận một khoản lương 4,49 triệu USD một năm (gấp đôi ở Barca) sau khi đã trừ thuế với khoản chuyển nhượng 56,1 triệu USD - một vụ chuyển nhượng khổng lồ trong lịch sử bóng đá. Figo rời Barca khi vừa chứng tỏ là một trong những cầu thủ hay nhất và xuất sắc nhất. Trái tim của xứ Catalan giang hồ và kiêu hãnh đã làm tan nát bao trái tim đã tôn sùng nó.
    uộc chuyển nhượng Figo giữa Barca - Real Madrid không chỉ là cú sốc đối với người hâm mộ mà nó còn là một hiện tượng minh chứng cho một vấn đề lớn về sự ràng buộc, luân lý, sự chung thủy và gắn bó giữa cầu thủ và đội bóng. Quả thế, đứng trước những món lời giữa những cuộc chuyển nhượng, các ông trùm của CLB thường ít do dự.

    Bởi bóng đá không chỉ đơn thuần là thể thao mà nó nằm trong ngành công nghiệp giải trí với một khoản thuế khổng lồ hàng năm đóng góp vào nền kinh tế.

    Đứng trước vụ việc này Figo nói rằng “Sang Real là một quyết định khó khăn của tôi nhưng trong sạch. Sự thực thì vụ chuyển nhượng này là một vụ cá cược lớn của nhà tài phiệt bóng đá Florentino Perez, ông đã nhắm Figo làm quân chủ bài trong cuộc đua tranh với Lorenzo Sans vào chức chủ tịch Real. Ông hùng hồn tuyên bố sẽ thanh toán toàn bộ tiền vé xem trọn mùa giải cho 70.000 cổ động viên trung thành của Real nếu ông ta đắc cử mà không mua được Figo.

    (Theo www.11helden.de)


    Đồng thời ông Perez lại giao kèo với Jose Veiga Fure đại diện của Figo và người môi giới chuyển nhượng: “Nếu thắng được Sans vào chức chủ tịch mà không ký được hợp đồng vời Figo thì ông ta sẽ mất cho anh 20 triệu bảng anh và nếu Figo không về với Perez thì anh sẽ mất 20 triệu…” người đại diện của Figo đã hoàn toàn bất ngờ khi Perez lên chức chủ tịch vì họ cho rằng Perez không thể lên chức đó.

    Với 56,1 triệu USD, Real tung ra đã mua đứt bản hợp đồng giữa Figo với Barca để biến anh thành cầu thủ tự do và rồi thuộc về họ. Với Figo, giai đoạn đầu về Real có lẽ là khoảng thời gian khó khăn vất vả nhất trong đời.

    Anh chịu rất nhiều sức ép, từ những lời mát mẻ của ông tân chủ tịch Barca, Joan Gaspa “Luis hẳn là dũng cảm lắm và không biết xấu hổ mới nói rằng anh ta đến Real không chỉ vì tiền… có Figo tức là R.M có được một cầu thủ miệng thì nói yêu mến Real mà bụng thì không phải vậy.”, đến sự tẩy chạy, nguyền rủa của hội cổ động viên Barca: “Cuộc chuyển nhượng này quá sức chịu đựng. Đức chúa trời sẽ không tha thứ.” Và hơn nữa Real Marid là một đội hình có phong cách đặc biệt với hàng loạt các thủ cực kỳ xuất sắc với các phong cách và cá tính mạnh mẽ với những sở trường cá nhân siêu việt.

    Ngay cả số áo quen thuộc của anh cũng không được giữ, nó đã thuộc về Raul, anh đành chọn số 10, một sự thay đổi chẳng mấy thú vị cho dù đó là một con số thiêng liêng nằm trên áo các cầu thủ bóng đá. Tuy nhiên Figo không mất nhiều thời gian để thích nghi với đội bóng như các chuyên gia bình luận đánh giá, “Dù sao thì từ những ngày đầu tiên gia nhập Real, cá tính không cho phép tôi xem mình là kẻ xa lạ”. Figo nhanh chóng chiếm được cảm tình của 70.000 cổ động viên Real.

    Ngay sau đó, anh đã chứng tỏ việc để Luis đến với Real Madrid được xem là một sai lầm lịch sử và là điều tồi tệ nhất của CLB xứ Catalan, họ đã truyền thêm sức mạnh cho đối thủ truyền kiếp của mình khi ghi một bàn thắng cho R.M trước đội Oviedo đưa R.M lên dẫn đầu bảng xếp hạng hơn Barca đến 5 điểm.

    Trong nửa mùa bóng 2000 anh đã tự ghi 6 bàn thắng và chuyền cho đồng đội ghi thêm 9 bàn thắng nữa. Xét về thành tích thi đấu Figo được coi là cầu thủ số 1 của giải Primera Liga (giải bóng đá hạng nhất TBN).

    Nếu nhìn vào đội hình của Real Madrid vào thời điểm này hẳn là không có một huấn luyện viên nào trên thế giới lại không “thèm khát” với những tên tuổi lẫy lừng Zidane, Raul, Roberto Carlos,… và đặc biệt là Luis Figo. Tại Tây Ban Nha, người ta cho rằng chính ở đội hình quá nhiều tên tuổi lớn như vậy sẽ khiến cho tập thể của Real suy yếu, sự chuyển đến của Zidane sẽ làm lu mờ đi tài năng của Figo và ngược lại.

    Tuy nhiên, chức vô địch Champions League đã làm “câm” đi tất cả những cái mồm “nhiều chuyện”. Sự khéo léo của Zidane đã hòa quyện với tốc độ và tinh tế của Figo để hình thành nên sức mạnh vũ bão trên hàng tấn công được bồi đắp thêm bởi một tên tuổi lẫy lừng khác- Raul Gonzalez.

    Với những gì Luis Figo làm được đã cho thấy anh hoàn toàn xứng đáng với cái giá chuyển nhượng 118 triệu DM, danh hiệu cầu thủ đắt giá nhất thế giới (đương nhiên là vào thời điểm chưa có vụ chuyển nhượng của người đồng đội mới Zinedine Zidane).

    Mặc dù gặt hái được rất nhiều thành công, song Figo luôn khiêm tốn và rất khôn ngoan trong cuộc sống riêng tư. Anh có một mối quan hệ gắn bó chung thủy với cô người mẫu Helen Svendin.

    Sống với nhau nhiều năm nhưng cho đến 8- 2001 Figo mới hợp thức hóa mối quan hệ với hoa hậu Thụy Điển, người mẫu quảng cáo Helen Svendin. Lễ cưới của họ được tổ chức bí mật ở Albufeira (BĐN), buổi lễ được bảo vệ nghiêm ngặt với lượng khách mời rất hạn chế: chỉ có ông chủ tịch Perez, tiền vệ Couto-bạn thân của Figo và một vài người khách thân thiện. Một vị khách đặc biệt nữa là cô con gái đầu lòng Dimanda gần 2 tuổi. Những thông tin, hình ảnh về buổi lễ đến nay hầu như vẫn kín trong kho tư liệu của công ty độc quyền cầu thủ Lusa của Real Madrid.

    Luis Figo là một tài năng bóng đá thực sự. Ở anh là một sự tổng hợp các kỹ thuật tinh tế đến siêu việt của các cầu thủ lớn nhất… người ta cho rằng anh có kỹ thuật phi thường của Rivaldo nhưng xa hơn Rivaldo, anh chính là kẻ chinh phục thế giới. Một ngôi sao lớn nhưng không ồn ào. Điều quan trọng giúp anh đạt được những đỉnh cao ấy là khát vọng vươn lên, khát khao vươn tới các đỉnh cao mà tự anh thấy mình hoàn toàn có khả năng đang tiềm tàng. Figo luôn tin rằng mình đã có thể chơi hay hơn sau mỗi trận đấu và thời điểm đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời sự nghiệp của mình vẫn chưa tới. Đứng trước mùa giải nào, tận đấu nào tất cả là quyết tâm chiến thắng.
    Luis Felire Madeira Caeirp Figo
    Tên thường gọi: Figo
    Quốc tịch: Bồ Đào Nha
    Sinh ngày: 04- 11-1972
    Cao: 1.80
    Nặng: 75kg

    Thành tích:
    Vô địch thế giới U16
    Vô địch thế giới U20
    Cúp quốc gia Bồ Đào Nha
    Hai lần đạt danh hiệu vô địch Tây Ban Nha
    Một siêu cúp Tây Ban Nha
    Một Cúp C2
    Một siêu cúp Châu Âu

    thay đổi nội dung bởi: cobetocmay, 11-15-2006 lúc 01:49 AM

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  11. #23
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Fabien Barthez - Sự lựa chọn số 1


    Fabien Barthez - người được cả thế giới biết đến với những pha vờn bóng luôn làm người hâm mộ phải đứng tim; và kỹ thuật bắt bóng làm nản lòng các chân sút cừ nhất thế giới… Luôn biết cách trấn an hàng phòng thủ và chứng tỏ lối chơi hoàn hảo trong mọi tình huống, Fabien Barthez là số 1 trong sự lựa chọn và niềm tin của người dân Pháp.

    Đã bốn năm trôi qua kể từ cái huy hoàng ấy khi mà lần tiên các cầu thủ áo lam của nước chủ nhà được cầm lên chiếc Cúp vô địch bóng đá thế giới mà họ mơ ước bấy lâu nay. Nước mắt hòa lẫn với niềm hạnh phúc. Trong vòng tay của đồng đội, chàng thủ môn tài ba của đội tuyển Pháp đã nghẹn ngào xúc động.

    Đồng đội đã tung lên hạ xuống người anh hùng của họ không biết bao lần. Trong suốt 90 phút thi đấu của trận chung kết khung thành của đội tuyển Pháp không một lần phải rung lên, nó được trấn giữ bởi Fabiel Barthez.

    Sau trận cầu lịch sử đó, cùng với Zidane, cái tên Fabiel Barthez trở thành đề tài được chú ý nhất trong các câu chuyện bên tách cà phê của những người bạn, trở thành trung tâm thảo luận ở các gia đình và là đối tượng của hàng ngàn bài báo, cuộc phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Người Pháp biết ơn những gì chàng thủ môn “đầu trọc” đã làm cho đội tuyển Pháp. Người ta không thể quên hình ảnh Barthez dũng cảm lao ra cản phá thành công các cú sút của những cầu thủ đến từ miền đất Brazil, những lần ra vào hợp lý cộng với lòng quyết tâm của anh đã bảo vệ an toàn cho lưới của đội tuyển Pháp và góp phần mang lại thành tích vẻ vang cho lịch sử bóng đá Pháp.

    Sau bao nhiêu năm chờ đợi cuối cùng họ đã có điều họ mong muốn. Năm nay Fabiel Barthez bước sang tuổi 30. Anh đã chơi bóng từ khi còn rất nhỏ và dĩ nhiên là chơi ở vị trí thủ môn.

    Sinh ra và lớn lên ở Lavelanet thuộc xứ Ariege, Fabiel Barthez cũng như bao người con của mảnh đất này đều say mê môn bóng bầu dục. Bản thân Barthez cũng tự nhận rằng, cho đến bây giờ sau những năm tháng gắn bó với môn bóng đá và đã dành được nhiều vinh quang với môn thể thao này anh vẫn chẳng thể nào quên và vẫn say mê môn bóng bầu dục như ngày nào.

    Bóng bầu dục là môn thể thao số một ở Lavelanet, ông nội và bố của anh là cầu thủ xuất sắc của đội bóng bầu dục Lavelanet trước và trong những năm 70.

    Tuy nhiên, con đường mà anh chọn lại là bóng đá. Quả bóng tròn đã làm mê mẩn chú bé Barthez đến nỗi anh đã bỏ không đi theo truyền thống của gia đình. Nhưng điều đó cũng chẳng hề gì bởi với quả bóng tròn anh luôn tỏ ra xuất sắc chẳng kém gì với quả bóng bầu dục.

    Chính trên quê hương mình, tài năng của Barthez đã bộc lộ và sớm được phát hiện. Lúc mới 12 tuổi, Barthez đã được mời tham gia đội tuyển trẻ của tỉnh, khi mà tài bắt bóng của anh đã được nhiều người biết đến.

    Tham gia đội tuyển của tỉnh, Barthez luôn có mặt trong đội hình chính thức. Cậu bé Barthez trong các trận đấu đã di chuyển trước khung thành thoải mái như “cá gặp nước” và khác với các cầu thủ trẻ thường thận trọng khi sắp đạt tới đỉnh cao, Barthez chỉ mải thích thú với những được-thua của cuộc chơi mà quên nghĩ tới danh tiếng của mình.

    Cậu bé Barthez sống cùng gia đình trong một căn hộ tầng 10 ở Lavelanet. Theo như lời kể của chị gái thì Barthez chơi bóng suốt cả ngày, dường như không biết mệt mỏi, cậu luôn rủ chị gái cùng chơi trong vai trò là “đối thủ”. Cậu bé Barthez tỏ ra không thích trường học. Khi đến trường cậu chỉ mong ngóng một điều là giờ học kết thúc để cậu được chạy ra ngoài và chơi bóng.

    Có lẽ vì thế mà thành tích học tập của cậu không mấy xuất sắc. “Trái bóng luôn là sự ám ảnh đối với tôi”, Barthez nói. Ngoài quả bóng tròn bầu dục và những lần gặp bọn trẻ ở tầng dưới luôn trở thành những trận thi đấu.


    Chủ nhật hàng tuần, Barthez thường theo bố đến sân tập của đội bóng bầu dục, lúc đó hai bố con thường chơi bóng cùng nhau và người cha luôn tôn trọng sở thích và sự lựa chọn của Barthez.

    Ông vẫn thường nói Barthez có một đặc điểm rất giống cha mình đó là tinh thần và lòng mong muốn, khát khao chiến thắng. Sau này, khi thường xuyên phải thi đấu xa nhà, Barthez vẫn luôn gọi điện về cho bố và chị sau mỗi trận đấu để được biết mình thi đấu như thế nào.

    Nhưng cho dù anh đã đạt được Cúp vô địch thế giới, cha anh vẫn chưa bao giờ nói với anh rằng anh là một thủ môn xuất sắc nhất thế giới. Ông thường nói với con : “Nếu hôm nay con tin rằng mình chơi tốt thì con sẽ là quá khứ”.

    Hiện nay Fabiel Barthez đang chơi cho câu lạc bộ Manchester United. Trước khi chuyển sang chơi cho câu lạc bộ này anh đã từng đầu quân cho Olympic Macxây, AS Monaco.

    Chính trong thời gian này tài năng của anh có huấn luyện viên đội tuyển Pháp đã quyết định đặt anh vào vị trí thủ môn chính thức cho đội tuyển trong World Cup 1998.


    Và anh đã không hề làm mọi người thất vọng khi đã chơi rất xuất sắc trong vai trò người trấn giữ khung thành, tạo nên một hậu phương vững chắc để hàng tiền đạo của đội tuyển yên tâm mở các đợt tấn công vào khung thành đối phương. Sau khi kết thúc vòng chung kết World Cup 98, rất nhiều câu lạc bộ muốn có chàng thủ môn tài ba này.

    Và giữa năm 2000, Manchester United đã kéo về được cho mình thủ môn xuất sắc nhất thế giới với một cái giá chuyển nhượng không nhỏ chút nào, 36 triệu frăng Pháp và mức lương hàng tháng là gần 17 triệu frăng Pháp.

    Huấn luyện viên Alex Ferguson rất yêu thích cầu thủ này và theo ông chỉ Barthez mới có thể thay thế được vị trí của Peter Schmeichel. Do rất muốn có thủ môn đội tuyển quốc gia Pháp để lấp chỗ trống của người khổng lồ Đan Mạch-Schmeichel để lại mà ngay cả thủ môn người Hà Lan Van Der Gouw và thủ môn người Italia Taibi đều không thể thay thế được nên ông Ferguson tỏ ra rất thoáng trong vụ thương lượng này.

    Ngoài 82 triệu frăng bồi thường chuyển nhượng cho Monaco và khoản thưởng 10 triệu frăng cho Barthez khi chịu ký hợp đồng, M.U còn đề nghị với anh một mức lương cao hơn rất nhiều so với mức lương 1 triệu frăng/tháng mà Monaco trả cho anh.

    Đến nước Anh vào tháng 7/2000, Barthez nhanh chóng ghi dấu ấn của mình và mình và thay thế hình ảnh của người khổng lồ Đan Mạch Peter Schmeichel trong trái tim của các cổ động viên M.U. Thi đấu ấn tượng trong một mùa bóng tuyệt vời với “những con quỷ đỏ” tại “Nhà hát của những giấc mơ”, Fabien đã cùng đội bóng này dương cao chiếc Cup vô địch Premier League, danh hiệu thứ 7 trong vòng 9 năm của M.U.

    Huấn luyện viên Alex Ferguson hết lòng ca ngợi anh và đồng đội luôn quý mến anh. Ngoài đôi bàn tay vàng thì cái uy của chàng thủ môn này cũng đã từng cứu nguy cho khung thành của M.U. Trong trận đấu với Valencia lượt đi Champions League thay vì sút bóng vào lưới thì lại chần chừ hơi chùn chân khi đối mặt với Barthez. Và bàn thắng cũng đủ mang chiến thắng về cho đội sở hữu nó.

    Fabiel Barthez là “típ” thủ môn chơi rất quái cùng cỡ với Chilavert, Schmeichel. Anh có phản xạ rất nhanh nhạy và những cú bắt bóng ngẫu hứng kiểu như những thủ thành của bóng đá Nam Mỹ sản sinh ra.

    Anh chơi rất chắc chắn tập trung song cũng có lúc chơi khá mạo hiểm, sẵn sàng lừa bóng tay đôi với tiền đạo đối phương, nhiều lúc có cảm giác như anh chơi bóng rất ngẫu hứng, hơi tài tử. Trong một số trận đấu gần đây với M.U người ta thường thấy Barthez bỏ cầu môn vượt khỏi khu vực 16m50, thậm chí còn tiến gần đến khung thành đối phương tìm cách ghi bàn.

    Và đã có đôi lúc anh phải trả giá cho sự liều lĩnh đó. Bàn thắng của Diergo Christal ghi cho Deportivo vào lưới M.U tại vòng đấu bảng thứ nhất Champions League mùa bóng năm nay là một việc, M.U còn được đẩy lên cao độ bởi những xử lý “như trẻ con”của Barthez đã hai lần bị “đàn em” Thierry Henry qua mặt và sút tung lưới.


    Điều này cũng dễ hiểu bởi vì hồi nhỏ lúc còn đi học, Barthez ngoài vị trí thủ môn còn chơi ở rất nhiều vị trí khác trên sân. Cho đến khi gia nhập M.U, Barthez cũng thường tập luyện đá bóng với các đồng đội. Vì vậy trong khi chơi ở vị trí tiền đạo, anh rất nhanh nhẹn, chuyền bóng chính xác và lừa bóng cũng rất điệu nghệ. Tuy nhiên Barthez cũng thẳng định bản thân anh “chỉ muốn nổi tiếng với tài bắt bóng”.

    Sau khi World Cup 98, Barthez có dịp trở về thành phố Lavalanet-quê hương anh. Ở đây anh được đón chào như một vị tổng thống. Người dân Pháp nói chung, dân xứ Ariege và thành phố Lavalanet nói riêng tự hào về người anh hùng Barthez.

    Ở thành phố quê hương anh người ta nghĩ nhiều đến việc Barthez là người xứ Ariege chứ ít ai nghĩ rằng anh là người hùng của cả nước Pháp, thậm chí nhiều người chỉ nghĩ rằng anh là người hùng của Lavalanet. Hàng ngàn tấm biểu ngữ đón chào anh được căng lên trên các đường phố, tòa nhà.

    Tất cả mọi người đều muốn được ôm hôn cái đầu hói nhẵn bóng của anh, được bắt tay, xin chữ ký và nói lời cảm ơn những gì anh đã làm cho đội tuyển Pháp và cho xứ Ariege. Fabiel Barthez được xem như một ngôi sao dù anh không muốn như vậy.

    Cũng sau World Cup 98, một sự may mắn ngẫu nhiên của số phận đã tạo cho Barthez cơ hội gặp “một nửa” của chính mình. Đó là Linda Evangelista - người mẫu kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng.

    Tiếng sét ái tình đã đánh gục họ khi lần đầu tiên hai người gặp nhau trên bãi biển Saint-Tropez, khi đó anh mới 26 tuổi và Linda 33 tuổi. Cho đến trước gặp Linda, những người phụ nữ trong cuộc đời Barthez chỉ là mẹ và các chị gái của anh. Và chuyện tình của chàng thủ môn tài hoa luôn là đề tài khiến mọi người thắc mắc.

    Mọi hành vi, cử chỉ khác thường của chàng thủ môn tài hoa này trên sân bóng đều bị người ta gắn với những câu chuyện không hay xung quanh cuộc tình của anh với Linda. Những cổ động viên cuồng nhiệt của M.U thì coi như Linda như kẻ tội đồ, kẻ đã khiến cho thần tượng của họ đánh mất phong độ trong những trận đấu có tính chất quan trọng trên con đường bảo vệ chức vô địch và thống trị châu Âu của toàn đội.

    Tuy nhiên, Barthez đã phủ nhận tất cả. Những tin đồn xung quanh việc chàng thủ môn “đầu trọc” này thất tình rồi là những bất đồng với huấn luyện viên… đã được dập tắt. Còn bây giờ anh đang hạnh phúc với tình yêu của mình, chàng thủ môn cô đơn trước kia đã hoàn toàn biến mất.

    Là một thủ môn xuất sắc nhất thế giới không có nghĩa là không bao giờ phạm sai lầm. Barthez cũng vậy những sai lầm của anh cũng dẫn đến kết quả không mấy tốt đẹp của M.U cuối mùa giải 2001-2002 đã khiến cho nhiều người nghi ngờ phong độ thi đấu của anh đang giảm sút.

    Lần đầu tiên trong gần một thập kỷ M.U kết thúc mùa giải mà không nằm trong hai vị trí dẫn đầu. Người ta cho rằng sở dĩ như vậy ngoài một số nguyên nhân như đội hình xáo trộn, các cầu thủ thi đấu không ổn định, tự mãn và thiếu sự khát khao, các cá nhân không còn quan tâm nhiều vì tập thể và một nguyên nhân nữa mà Barthez đã gây ra.

    Ba năm liền, vị trí thủ môn của M.U luôn là một gánh nặng mà hiếm có ai có thể lấp đầy.

    Người ta cần một thủ lĩnh thực sự ở trong khung gỗ, người có thể chỉ đạo và sốc lại tinh thần cho hàng hậu vệ vốn đã ngày một suy yếu đi, phải chịu khá nhiều sức ép, tuy nhiên, Fabien Barthez đã lấy lại được niềm tin của mọi người bằng cách khắc phục những sai lầm của chính mình với sự giúp đỡ của huấn luyện viên, đồng đội và hơn cả là sự phát huy cao độ tài năng và tinh thần trách nhiệm.

    Cho đến nay anh vẫn là người không thể thiếu cho quân của ông Alex Ferguson.





    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  12. #24
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    David Trezeguet - Luyện tập là bí quyết của thành công


    Trở thành vua phá lưới tại một giải đấu được coi là khắc nghiệt nhất thế giới, giờ đây David Trezeguet đã khẳng định một vị trí không thể thiếu trong đội hình của “lão bà” thành Turin. Nhanh nhẹn, dẻo dai và khả năng dứt điểm tốt trong mọi tình huống, mọi góc độ… anh chàng tiền đạo người Pháp (cùng với Thierry Henry, Wiltord…) đang chứng tỏ cho cả thế giới thấy rằng đội tuyển Pháp là một tập hợp những tay săn bàn đáng gờm nhất hiện nay.

    Chỉ là chân sút dự bị của những chú gà trống Gôloa ở World Cup France 98 tổ chức trên sân nhà của đội quân áo Lam - đội bóng sau đó giành danh hiệu vô địch thế giới (VĐTG). Cũng chỉ là chân sút vào thay người trong trận chung kết Euro 2000 trên đất Hà Lan, nhưng Davi Trezeguet đã nhấn chìm đội tuyển áo màu Thiên Thanh (Italia) bằng bàn thắng vàng ở phút thứ 117.

    Pháp đăng quang trong một giải đấu chính thức được tổ chức bên ngoài đất Pháp và người ta không còn gắn cho đội quân áo Lam là đội bóng thiếu tiền đạo nữa chỉ đơn giản là lúc ấy họ đã có Thiery Henry, Nicolas Anelka, Silval Wiltord, Stephane Guivarch và đặc biệt là David Trezeguet - “Bati” Pháp”.

    Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1977 tại Argentina, đất nước Nam Mỹ cuồng nhiệt với vũ điệu Tango và vũ điệu của trái bóng tròn, David Trezeguet đam mê trái bóng tròn từ nhỏ. Cha anh một người Argentina chính gốc đã hướng anh đến với những tượng đài của bóng đá thế giới ngay trên đất nước mà anh sinh ra và lớn lên. Đất nước đã hai lần đăng quang trên bục cao nhất với những Kempes, Pasarella, Maradona, và gần đây nhất là Batistuta.

    David say mê Batigol bởi tiền đạo số 1 của Argentina này là một chân sút siêu hạng, một cây ghi bàn bẩm sinh. Batigol trở thành thần tượng của Trezeguet từ ngày anh còn nhỏ xem bóng đá trên truyền hình và chơi đùa cùng trái bóng trên đường phố như phần lớn người Argentina. Lớn lên một chút, David gia nhập câu lạc bộ Platense chủ yếu để học hỏi và rèn luyện.

    Năm 1995 đã mở ra trang mới trong cuộc đời cầu thủ của Trezeguet. Gia đình anh trở về Pháp, công quốc Monaco và CLB đang thi đấu ở Division 1 (giải hạng nhất Pháp) này đã thu nhận Trezeguet vào đội hình trẻ của mình. Năm ấy, David mới 18 tuổi và hai năm sau, anh đã được triệu tập vào đội hình U21 Pháp dự giải VĐTG ở Malaysia do ông HLV đội U21 quá ấn tượng trước thành tích ghi bàn của Trezeguet ở đội hình trẻ Monaco. Chức vô địch U21 năm 1997 tại Malaysia là một loạt khởi đầu hoàn hảo cho hàng loạt danh hiệu mà anh có được sau này.

    Ở Monaco thời kỳ đầu, cái bóng của Sonny Anderson, một chân sút hàng đầu người Brazil tỏ ra quá lớn và David lác đác được ra sân trong rất ít trận tại Division 1 ở vai trò dự bị. Nhưng anh đã kịp ghi những bàn thắng rất ấn tượng và cực kỳ quan trọng cho Monaco.


    Cuối mùa bóng 96-97 Monaco giành chức VĐQG và Sonny ra đi, người ta lo ngại Monaco sẽ tụt dốc vì khủng hoảng chân sút nhưng ông Jean Tigana, một trong bộ tứ tiền vệ lừng danh của bóng đá Pháp trong những năm cuối thập niên 70 đến cuối thập niên 80, HLV khi đó ở câu lạc bộ trấn an “Không sao, chúng tôi đã có David Trezeguet”.

    Vào thời điểm đó, có ít người tin tưởng vào lời nói của ông Tigana. Dù sao đặt niềm tin vào chân sút trẻ và chưa có nhiều thành tích như Trezeguet quả là một sự mạo hiểm.

    Thế nhưng, David đã dập tắt những lo ngại của giới báo chí và người hâm mộ, ngay mùa bóng đầu tiên thi đấu trong đội hình chính thức của Monaco, Trezeguet đã ghi tổng cộng 21 bàn thắng, vượt cả đàn anh Ikpeba và Thiery Henry ghi cho Monaco hai mùa bóng trước (20 và 19), người hâm mộ còn nhớ như in những bàn thắng của Trezeguet ghi vào lưới Juventus và Manchester United ở Champions League các mùa bóng 97-98, 98-99.

    Thành tích nổi bật đó khiến David trở thành cầu thủ hiếm hoi còn đang thi đấu trong nước được triệu tập vào đội hình áo Lam tham dự France 98. Với anh đây không phải là điều quá sức tưởng tượng nhưng với người hâm mộ, việc một chàng trai gốc Argentina, 17 tuổi mới trở về Pháp mà vài năm sau đã được khoác chiếc áo Lam cùng với những tên tuổi lớn như Zidane, Blance, Thuram, Dugary… và lần đầu tiên VĐTG với đội tuyển Pháp quả là điều kỳ diệu.

    Ít ai biết được rằng David Trezeguet đã phải tích cực luyện tập với khối lượng như thế nào để đạt được mục tiêu tham dự France 98.

    Chàng trai với dáng dấp của một trung phong bẩm sinh (cao 1,87m, nặng 75kg) có cú sút trái phá vào lưới đội Manchester United trong trận tứ kết Champions League đã thực sự dội gáo nước lạnh vào “những con quỷ đỏ” với tham vọng thành công trong những lần trở lại đấu trường châu Âu.

    Dù cuối cùng Monaco đã không vào được sâu hơn nhưng người ta đã bắt đầu chú ý vào chân sút trẻ này. Với David, anh hiểu rằng chỉ cần một bàn thắng vào lưới đối phương cho đội tuyển áo Lam là anh có quyền có mặt trong đội quân của ông HLV Aimé Jacquet. Chính huấn luyện viên tài ba này đã mở ra cơ hội cho những cầu thủ trẻ như Henry và Trezeguet, Anelka…

    Bóng đá là môn thể thao mang tính đồng đội cao, cả đội bóng phải là một tập thể thống nhất. Đó là lý do chủ yếu cho thấy sự thành công của Monaco trong những mùa bóng 96-98. Ở Monaco, sự cung cấp bóng của tuyến sau cho các tiền đạo là vô hạn. Chẳng thế mà Sonny Anderson, rồi Thiery Henry và David thi nhau “nhả đạn” vào khung thành đối phương.

    Với David, người “tâm đầu ý hợp” với anh nhất ở Monaco là một cầu thủ Argentina mới chuyển về sau World Cup 98, người sau này trở thành bạn thân của Trezeguet không chỉ trên sân cỏ. Đó là Marcello Gallardo - một thần đồng của câu lạc bộ River Plate - dòng sông bạc của Buenos Aires, Argentina. Trezeguet nói về Gallardo: “Cậu ấy là một kỹ thuật gia, một cỗ máy thực thụ, thi đấu bên cạnh cậu ấy tôi không bao giờ sợ thiếu bóng". Còn Gallardo nhận xét: “David là một chân sút thông minh và đa năng. Chơi cùng cậu ấy tôi có cảm giác như được thi đấu bên cạnh Batistuta vậy”. Đó là lời nhận xét “vô giá” với David vì với anh Batistuta chính là thần tượng của anh.

    Trước World Cup 98, người ta dấy lên sự nghi ngờ, liệu rằng “Bati” (biệt danh của Trezeguet) có được ông Aimé Jacquet triệu tập vào đội hình áo Lam. Trong khi những tranh luận ấy còn sôi sục trên mặt báo thì David đều đặn ghi bàn cho Monaco, những bàn thắng ấy khiến ông HLV khó tính đổi ý.

    Ông Jacquet đã phá bỏ những tiền lệ trước là đội tuyển Pháp từ trước đến nay chưa bao giờ đưa vào đội hình những cầu thủ còn quá trẻ và non kinh nghiệm. Việc tạo ra sự đột biến ấy khi ông đưa Henry, Trezeguet và Nicolas Anelka tham dự ở các trận giao hữu cho thấy dấu hiệu của một sự cải cách.

    Nhưng đối với Trezeguet, ông thầy đặt dấu ấn trong sự nghiệp của anh chính là Jean Tigana. Điều này được kiểm nghiệm ở câu lạc bộ khi mà nhà VĐTG ở vai trò dự bị trở về. Gần như thất vọng vào một giải đấu chưa được thể hiện hết khả năng, David lao vào tập luyện và cùng CLB khao khát chinh phục những thành công mới.

    Tuy nhiên, việc các CLB của Pháp liên tiếp rơi rụng trên đấu trường châu Âu cho thấy Division 1 chỉ là một giải đấu hạng 2 so với Premira Liga, Serie A hay Premier League. Chính vì lẽ đó, người ta coi các chân sút hàng đầu của Division 1 cũng chỉ là các chân sút hạng 2.

    Thực tế cho thấy, Thiery Henry đã ra đi, Nicolas Anelka cũng bôn ba và vất vả lắm họ mới chứng minh được khả năng của mình tại CLB mới. Trong khi đó, những người mới đến thì chưa có đủ thời gian để thích nghi như cầu thủ Bồ Đào Nha Pauleta hay Ronaldinho của Brazil… chỉ có mỗi Sonny Anderson, thi đấu khá hiệu quả lại khấp khểnh ra đi.

    Rất nhiều chuyên gia, kể cả HLV Aimé Jacquet đều cho rằng tại France 98, đội tuyển Pháp không có được “một hàng tiền đạo thực thụ”. Các cầu thủ lứa trên như Dugary, Papin… đã qua thời sung sức còn các chân sút trẻ như Henry, Anelka, Guivarch, Trezeguet… lại cần phải chứng tỏ nhiều.

    Nhưng ý nghĩ này đã không kéo dài. Euro 2000 tổ chức trên đất Bỉ và Hà Lan, người hâm mộ đã được chứng kiến tài nghệ của hai chân sút được coi là “sát thủ” trên đấu trường châu âu - Thiery Henry và Nicolas Anelka, thấp hơn một chút về đẳng cấp là David Trezeguet và Silval Wiltord… dẫu sao, ông Roger Lemere đã có nhiều giải pháp hơn ở hàng tiền đạo, áp lực ghi bàn đã thực sự được giải tỏa khỏi hàng tiền vệ, thậm chí cả những hậu vệ của đội tuyển như ở World Cup 98.

    Pháp một lần nữa đăng quang trên đấu trường châu Âu bằng bàn thắng vàng của David Trezeguet. Người hâm mộ sẽ còn nhớ mãi bàn thắng này : một cú vôlê tung nóc lưới thủ môn Toldo, một thủ môn mà trước đó đã làm nản lòng không biết bao nhiêu chân sút như Kluivert, Overmars, Mijatovic…

    Trở về nước sau giải đấu này rất nhiều CLB hàng đầu thế giới tìm cách liên hệ với Monaco để có được chữ ký của David. Cuối cùng, sự hấp dẫn của Serie A đã thuyết phục Trezeguet, anh kí hợp đồng thi đấu cho câu lạc bộ Juventus - một CLB lớn nhưng vài năm trở lại đây họ đã có những cuộc trình diễn nghèo nàn ở cúp Châu Âu.

    Đây cũng chính là nơi Thiery Henry thử sức bất thành sau khi rời Monaco do không vượt qua được bộ đôi vàng của Juve thời kì đó là Inzaghi và Del Piero. Với Trezeguet, được thi đấu cho một trong những CLB giàu thành tích và nhiều tham vọng như Juventus là điều kiện tốt để hoàn thiện và phát triển tài năng của mình


    Cũng có nhiều người lo ngại cho Trezeguet khi mà trong đội hình Juventus bộ đôi Inzaghi và Del Piero vẫn ghi bàn điều đặn. David chấp nhận là một cầu thủ dự bị để học hỏi và chờ đợi. Những lần ra sân hiếm hoi được anh tận dụng để tích góp những bàn thắng và giá trị đích thực của Trezeguet được bộc lộ cao hơn sau một năm “ăn chực nằm chờ”.

    Những bộ óc thương mại của CLB Juventus không thể để một trong hai chân sút siêu hạng ngồi ghế dự bị và họ đã quyết định giữ Trezeguet ở lại thế chỗ cho Inzaghi chuyển sang đối thủ kình địch AC Milan. David giữ chân tiền đạo chính thức trên hàng công của Juve và được sự hỗ trợ đắc lực của Del Piero đá lùi hơn, từ đó bất kể sự có mặt của “sát thủ” người Chilê Marcello Salas và tiền đạo Nam Tư Kovacevic.

    Thậm chí, David Trezeguet còn thi đấu hiệu quả hơn cả Del Piero - cậu bé vàng của thành Turin bởi hiệu năng ghi bàn của anh. Giờ đây, David Trezeguet đang tiến dần đến vị trí của Batistuta đã đạt được ở Calcio cùng CLB Fiorentina. Hơn nữa, Trezeguet còn có nhiều cơ hội hơn Batigol bởi Juventus là CLB giàu có và nhiều tham vọng (Batistuta chưa bao giờ đoạt Scutdetto - chức vô địch Italia, cùng Fiorentina).

    Đã mấy năm rồi Juventus không thành công ở cả Serie A và Champions League, mùa bóng 2001-2002, Juventus cùng As Roma và Inter Milan thực hiện cuộc đua tam mã nước rút về đích. Phong độ tỏa sáng của các cá nhân như Del Piero, Trezeguet, Thuram, Buffon… tại mùa giải năm nay cùng với những trận đấu ấn tượng của “lão bà thành Turin” đã đưa Juventus lên hạng cao nhất tại Serie A.


    Riêng David Trezeguet, anh cũng tự thưởng cho riêng mình một danh hiệu - vua phá lưới tại Serie A mùa này. Quả thực, giờ đây, chàng David đã trưởng thành và tiếp tục nổ lực cho những cuộc chinh phục đỉnh cao mới và một chức vô địch Champions League mùa giải tới sẽ là một hương vị tuyệt vời trong “khẩu phần ăn” của David Trezeguet.

    Với nhiều người có thể Serie A đã không còn sức hấp dẫn, bóng đá Italia đã mất đi quyền lực thống trị tại châu Âu, tuy nhiên nếu nhìn vào sự quyết liệt, ganh đua giữa các đội bóng trong mấy mùa giải gần đây mới có thể hiểu hết được họ phải lao động đến dường nào.

    Mỗi một cá nhân trong CLB luôn phải nỗ lực và tập trung cho từng trận đấu, thậm chí đến vòng đấu cuối cùng nếu như không muốn công sức của cả mùa bóng tan thành mây khói chỉ trong vỏn vẹn có 90 phút thi đấu. Serie A là giải đấu khốc liệt nhất, là giải đấu của những cái đầu lạnh lùng và một “rừng” đầy sao - những ngôi sao ưu tú nhất của bóng đá thế giới.

    Có người đưa ra so sánh thú vị: Scudetto giờ là cuộc đua của những ngôi sao tiền đạo trong đội hình, As Roma có Batistuta và Totti; Inter có Ronaldo và Vieri còn Juventus có Del Piero và David.

    Người ta sẽ không phải nói về Trezeguet như là “cái bóng” của Batistuta - Batigol nữa mà sẵn sàng nói rằng có một Trezegol đã trưởng thành. Mới đây, CLB Juventus đã đặt ra một cái giá kỉ lục cho bất cứ một CLB nào muốn có được sự phục vụ của David Trezeguet.

    Ngày sinh : 15-10-1977
    - Nơi sinh : Buenos Aires, Argentina
    - Chiều cao : 1,87m
    - Cân nặng : 75kg
    - Vị trí : tiền đạo

    * Các câu lạc bộ đã thi đấu:
    Plateuse, Monaco, Juventus

    * Thành tích:
    Vô địch thế giới 1998
    Vô địch châu Âu 2000
    Vô địch thế giới U21 với đội tuyển Pháp
    Vô địch pháp 97 với Monaco
    Vô địch Italia 2002 với Juventus

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  13. The Following User Says Thank You to cobetocmay For This Useful Post:

    super.cr7 (03-10-2011)

  14. #25
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Christain Vieri – “Kẻ lang thang giàu có”


    Nhìn vóc dáng to lớn có vẻ vụng về, chậm chạp của Vieri, ít nói lại nghĩ rằng anh lại chính là một trong những tiền đạo “khủng khiếp” nhất thế giới hiện nay. Sức càn lướt tốt, mạnh mẽ trong những pha tranh chấp tay đôi cộng với những cú sút sấm sét từ chân trái sở trường đã tạo nên một Christain Vieri mà bất kỳ hàng phòng ngự nào cũng phải khiếp sợ…

    Vieri sinh ngày 12-7-1973 tại Bologna Italia. Mẹ anh là bà Nathalie, người Pháp. Bố anh, ông Robehto nguyên là một là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, từng thi đấu ở Juventus, Sampdoria, Bologna và cuối cùng kết thúc sự nghiệp ở Câu Lạc Bộ Marconi Sudney nước Ustralia gần 10 năm và chính tại CLB Marconi Sudney này, chú bé Vieri đã làm quen với bóng đá.

    Ngay từ khi còn bé, Vieri đã say mê bóng đá, anh nhớ lại: “Đó là Espana 1982, Cúp bóng đá thế giới đầu tiên mà tôi được xem qua tivi, ngày ấy đội tuyển Italia giành chức vô địch. Tôi đã xem 3 trận đấu của giải này vào lúc 4 giờ sáng vì giữa Australia và Tây Ban Nha chênh nhau tới 10 giờ sáng. Sáng hôm sau, tôi không thể nào tới trường – đành trốn học”. Đặc biệt ông nội, bố, anh trai của Vieri đều có máu bóng đá trong người nên những ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp bóng đá của anh là điều hiển nhiên và dễ hiểu.

    Họ dành cho anh rất nhiều lời khuyên. Anh đã tiếp thu, tích lũy và luôn vận dụng vào lối chơi bóng của riêng mình nhưng thật không ai giống ai, nên Vieri đã khá thành công ngay từ lúc tuổi còn thiếu niên. Bởi vậy, khi gia đình trở về Italia, lúc này Vieri bước sang tuổi 13, anh đã được gọi vào CLB Santa Lucia, rồi CLB Brato, đến CLB Turin sự nghiệp bóng đá của anh mới bắt đầu, anh tham dự Serie A ngày 15-1-1991 trong trận gặp Fiorentina.


    Ở Turin, anh giành được danh hiệu vô địch Italia, ghi được 8 bàn thắng, kết bạn với Zinedine Zidane. Trong sự nghiệp bóng đá, Vieri nổi danh rất nhanh trên sân cỏ quốc tế. Tiền đạo người Italia này thể hiện rất rõ 2 điều: có tài ghi bàn và không khoác áo một CLB nào quá lâu. Thậm chí “cậu bé vàng” Diego Maradona còn gọi anh là “gã du mục” bởi những cuộc chuyển nhượng liên tiếp của anh tới các câu lạc bộ; còn người Italia gọi anh là “kẻ lang thang giàu có”.

    Sau mỗi cuộc chuyển nhượng, “tài khoản” của Vieri lại tăng lên vùn vụt nhưng điều đó cũng phản ánh đúng với phong độ ngày càng tỏa sáng của anh. Tiền đạo dáng vóc lực lưỡng này đã chuyển 9 câu lạc bộ trong tám mùa giải: 1991: Torino; 1992: Pisa; 1993: Ravenna; 1994: Venedig; 1998: Lazio và hiện nay là Inter Milan. Cuối mùa bóng 1996-1997, làm nhiều người sửng sốt khi anh rời bỏ Juventus để chuyển sang câu lạc bộ Atletico lại bỏ ra những 17,5 triệu USD để ký hợp đồng với chàng trai mới 24 tuổi này.


    Nhưng kể từ đó, bằng một loạt bàn thắng đẹp mắt Vieri đã được các CĐV tán dương nhiệt liệt. Trận đấu quan trọng mà Vieri đã ghi bàn là gặp đội tuyển Nga ở trận tranh vé vớt tham dự World Cup 98. Với kết quả hòa 1-1 ở trận lượt đi ngay trận Moscow đã giúp đội tuyển Italia đặt được một chân lên chuyến tàu đến Pháp mùa hè năm 98.

    Sau trận thắng này, tờ báo thể thao nổi tiếng nhất nước Italia – “Corriere Dello Sports” đã cho đăng tít lớn: “Vieri, một bàn thắng bằng vàng”. Trước đó, tháng 3-1997 ngay trong lần khoác áo của đội tuyển quốc gia, gặp Moldova, Vieri đã ghi được một bàn thắng và thật vinh dự cho anh đây là bàn thắng thứ 1000 của đội tuyển Italia.

    Từ Moscow trở về, Vieri tiếp tục chuỗi ghi bàn của mình giúp Atletico thắng Real Betis 3-2 ngay trên sân khách, qua đó leo lên vị trí thứ 4 và tiếp tục gây áp lực đối với 3 đội bóng đứng đầu Barca, Espanyol, và Real Madrid.Tại trận này, ngoài việc ghi một bàn thắng, Vieri còn châm ngòi cho bàn thắng thứ nhất của Atletico khi anh “lấy” được một quả 11m đồng thời loại được thủ môn Antoni Pats của Betis ra khỏi sân chơi với một thẻ đỏ.

    Tại Atletico, anh đã gặt hái được một mùa bóng sáng chói với 24 bàn thắng sau 24 trận. Đặt biệt ở trận lượt đi vòng 2 cúp UFFA với CLB Paok Salonica của Hy Lạp, Vieri đã ghi được 1 bàn thắng tuyệt đẹp bằng một cú sút xoáy từ vị trí gần sát cột cờ góc. Cú sút đó đã xua tan hết bất kỳ mối nghi ngờ nào của các CĐV. Họ xếp thành hàng dài để cố gắng bắt chước 1 kỳ công mà như báo chí ca ngợi: “Một bàn thắng không thể tin nổi”. Sau sự kiện này, HLV Radomir Antic tự hào coi Vieri có thể ghi ít nhất 25 bàn. “Anh ta là 1 VĐV được trời phú cho 1 trí thông minh tuyệt vời và 1 tốc độ chóng mặt”. Phần thưởng dành cho anh vào cuối mùa bóng là được tặng danh hiệu Pichichi – vua phá lưới của giải vô địch Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Vieri cảm thấy anh chưa được các phương tiện thông tin đại chúng của Tây Ban Nha đánh giá đúng mức. Anh buồn rầu tâm sự: “Khi Raul (tiền đạo Real Madrid) ghi được 1 bàn thắng thì các nhà báo nhắc đến suốt 3 ngày. Nhưng khi tôi ghi được 1 bàn thắng cho Atletico Madrid thì có 1 sự khác biệt”. Vì thế, thời điểm này Vieri muốn để cho đôi chân kỳ diệu của anh nói lên tất cả. Khi hợp đồng với CLB Atletico Madrid vừa kế thúc, Vieri trở về Italia thi đấu cho CLB Lazio mà phí chuyển nhượng lên tới 30 triệu USD. Anh là niềm hy vọng của các CĐV ở Italia.

    Khi Vieri trở thành cầu thủ chính thức của đội tuyển, HLV trưởng, ông Sregio Cragnotti đã lớn tiếng tuyên bố: “Vieri không đồng nghĩa với danh hiệu vô địch nhưng nó tạo ra cảm giác rằng Lazio sẽ trông đợi nhiều ở tôi, đã chi nhiều tiền vì tôi”. Còn tiền đạo 25 tuổi cho biết: “Nhưng tôi không cảm thấy gánh nặng của bản hợp đồng lớn cũng như không muốn được gọi là người đối chọi với Ronaldo”.

    Để đáp lại niềm tin của HLV và lòng mong mỏi của các CĐV, Vieri đã chơi hết mình, trong 14 lần ra sân trong màu áo thiên thanh anh đã cống hiến 14 bàn, trong đó 5 bàn tại France 98, đưa đội Italia lọt vào tứ kết. Vieri thực sự đã khuấy động ký ức về những người anh hùng trong quá khứ của đội tuyển này là Paolo Rossi và Salvatore Schillaci.

    Tại Lazio, Vieri được xếp đá cặp với ngôi sao người Chile là Marcelo Salas. Cả 2 đều có biệt tài đưa bóng vào lưới của đối phương hơn là tạo cơ hội cho đồng đội. Vieri đã không dám nhận: “Về phần cá nhân tôi, tôi có sự tự tin. Tôi chắc chắn rằng với những cầu thủ xuất sắc nhất như tiền vệ người Tây Ban Nha Ivandela Pena và Roberto Mancini, là những người chuyền bóng không chê vào đâu được, tôi sẽ dễ dàng có được những cú sút cầu môn. Nếu như tôi sung sức, tôi không e ngại bất cứ điều gì cũng như bất kỳ đối thủ nào.”

    Vieri có sức khỏe tốt, chiều cao lý tưởng nên có thể tranh bóng bằng sức với mọi hậu vệ. Nhiều khi trông anh có vẻ lóng ngóng song anh có thể ghi bàn bằng cả hai chân và rất nguy hiểm trong những pha chơi bóng bổng. Anh đã giúp Lazio giành chiến thắng trong trận giành cup Italia 98. Ở trận đấu quyết định này, Vieri đã bị thương nặng ở đầu gối phải. Các dây chằng ngoài bị rách. Vieri nằm điều trị sau 1 cuộc phẫu thuật và thực hiện các bài tập phục hồi chức năng mỗi ngày 8 tiếng đồng hồ trong suốt 4 tháng ròng rã tại 1 trung tâm y học ở Ravenna, sau đó anh trở lại Roma, Vieri bị thương là một tổn thất nặng nề cho đội Lazio. Bản thân anh cũng phải chịu tiếng chì chiết từ phía các CĐV. Họ cho rằng nếp sống khá lành mạnh của chàng trai là hết sức nhút nhát, rụt rè, họ nói bóng nói gió rằng chấn thương của anh có thể liên quan đến công việc anh sử dụng một số chất bị cấm. Là người có suy nghĩ, Vieri đối mặt với tất cả mà không thèm phản ứng. Anh chỉ im lặng, đúng với biệt danh “chàng câm” và điều trị, tập luyện.

    Sau 105 ngày chấn thương, Vieri trở lại sân cỏ. Và để ăn mừng sự kiện này theo cách của riêng mình, anh đã ghi bàn thắng mang chiến thắng về cho Lazio trong 45 phút cuối của trận đấu. Các Tifasimi mừng rối rít. Lazio đang xếp thứ 6 và thua đội đầu bảng Fiorentina 6 điểm trước lúc “chú bò mộng” trở lại, thì sau 1 tháng, đội đã vươn lên hạng nhì và chỉ còn thua đội đầu bảng 1 điểm.

    “Vierigol” cứ đều đều ghi bàn trong mỗi trận đấu. Và khi anh không ghi được bàn thắng thì đồng đội người Chile – Salas lãnh trách nhiệm đó. Vieri cười nói: “Marcelo và tôi là một “liên minh làm bàn” thực sự. Không có 1 sự tị nạnh, ganh tị nào giữa chúng tôi, ngược lại chúng tôi là những người bạn tốt. Và trên sân cỏ chúng tôi hoàn toàn ăn ý với nhau, chúng tôi có thể nhắm mắt mà vẫn tìm thấy nhau, để cùng tận hưởng niềm hạnh phúc lớn lao”.

    Với sự có mặt một trong những cặp tiền đạo xuất sắc nhất hành tinh, Lazio còn làm được nhiều điều mà giới hâm mộ bóng đá phải kinh ngạc và khâm phục. Vieri chàng trai rụt rè, nhút nhát nên sau mỗi trận đấu anh lại thu mình trong căn hộ xinh đẹp của mình ở khu phố sang trọng của Roma. Anh tránh khỏi những sinh hoạt cuộc sống của giới thượng lưu, anh sống trầm lặng. Trong những cuộc trả lời giới báo chí, anh rất ít khi nói về bản thân mình, anh tự cho mình là: “người hoàn toàn bình thường” giống như hàng trăm hàng vạn người khác. Mặc dù được mệnh danh là “ngài tỷ phú mới” nhưng nhìn vào cách ăn mặc của anh chúng ta có thể đánh giá được anh là người thế nào. Anh không mặc những bộ comple Armani đắt tiền, và những kiểu trang phục “cấp tiến” của Doke và Gabbana cũng không phải là sở thích của anh. Vieri mặc áo sơ mi quần Jean, chân đi giày thể thao, hoặc thậm chí quần đen áo phông, chiếc áo len mỏng thắt quanh hông. Và khi người ta hỏi anh thì anh khẳng định: “không để đồng tiền làm thay đổi mình” và anh tin tưởng “sức mạnh của tôi ở sự giản dị”. Vieri đánh giá cao những giá trị như vẻ trung thực, hài hòa.

    Sau mùa bóng thành công ở Lazio, trung tuần tháng 9/99 anh chuyển sang chơi cho câu lạc bộ Inter Milan – một câu lạc bộ theo anh toàn những người vui nhộn và có nhiều cầu thủ giỏi nhất thế giới. Khi mới về Inter Milan được 3 tháng thì đội bóng Inter và cả anh đều đạt được những thành tích khiêm tốn. Vì trong suốt thời gian đầu Vieri và cả đội bóng đều phải định hình, điều chỉnh lối chơi để quen dần phong cách thi đấu của nhau. Đặc biệt tiền đạo tầm cỡ thế giới Ronaldo lại bị chấn thương và phải nghỉ thi đấu trong suốt một thời gian dài. Vieri tâm sự: “Chúng tôi chưa bao giờ được chơi trong đội hình mà huấn luyện viên mong muốn. Cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn cho tới lúc cả bộ máy sẽ được vận hành đồng bộ và rồi thành công cũng đến với chúng tôi”.

    Nhưng những gì mà Vieri nói lại không được như mong muốn. Chấn thương tái phát ở đùi khiến anh không thể cùng đội tuyển Italia tham dự Euro 2000. Ngày 18/7/2000, Vieri chỉ trích bác sĩ: Chưa bao giờ xảy ra chuyện một cầu thủ vừa hồi phục chấn thương mà mới chỉ sau 20 phút thi đấu lại bị tái phát. Có lẽ những người chữa trị cho tôi không đủ lành nghề. Tuy nhiên bác sĩ Julio Velasco của Inter không hài lòng, ông tuyên bố: “Không thể đổ thừa cho một bên nào mỗi khi có một cầu thủ bị đau. Chấn thương luôn xảy ra trong thể thao và cho mọi đội bóng. Vận động viên chỉ không may chứ không phải do bác sĩ phạm sai lầm”.

    Vieri cũng thừa nhận mình cũng có phần trách nhiệm trong lần bị thương cơ đùi phải. Đồng thời anh cũng quyết định tiếp tục ở lại Inter ít nhất 1 năm nữa, nhằm giữ đúng lời hứa với huấn luyện viên Marcello Lippi khi đầu quân cho Inter Milan. Đây là lần đầu tiên kể từ 1992, Vieri chịu ở lại với 1 đội bóng thêm một mùa bóng. Những nỗ lực của Vieri đã được đáp trả, mùa bóng 2001-2002, toàn đội Inter Milan đã thi đấu khá thành công dưới sự dẫn dắt của ông Hector Cuper – huấn luyện viên người Argentina. Cũng mùa bóng này, bằng những bàn thắng rất quan trọng mà Vieri đã đóng góp luôn giữ cho Inter có một vị trí đảm bảo ở tốp đầu của bảng xếp hạng trong cuộc đua giành Scudetto.

    Kết thúc mùa giải, Inter Milan bị Junentus qua mặt để giành ngôi vô địch Serie A. Thế nhưng với những gì mà Vieri và các đồng đội của mình thể hiện ở mùa giải 2002 đã thực sự gây ấn tượng và lời cảnh báo cho các đội tại Serie A trong cuộc đua giành Scudetto mùa giải tới. Với nghị lực phi thường và một tài ghi bàn bẩm sinh, chắc chắn Vieri sẽ còn tiếp tục đóng góp nhiều cho đội tuyển quốc gia cũng như cống hiến cho khán giả hâm mộ những pha bóng đẹp, những bàn thắng ở đẳng cấp cao.

    Ở nhiều cầu thủ khác, ngoài khác vọng và sự nổi tiếng thì tình yêu là điều không thể thiếu trong cuộc sống – đó là niềm đam mê thứ hai sau bóng đá. Vieri thì khác, mặc dù 30 nhưng anh chưa bao giờ bật mí về mối tình của mình, về những dự định cho tương lai nên đến tận bây giờ anh vẫn được mệnh danh là “kẻ cô đơn”. Có lẽ tình yêu bóng đá và sự nghiệp là mối quan tâm lớn nhất của anh? Nhưng tất cả đây mới chỉ là dự đoán, biết đâu Vieri sẽ đem đến điều bất ngờ cho những người yêu bóng đá, những fan của anh trên toàn thế giới?

    - Ngày sinh: 12/4/1973
    - Chiều cao: 82 kg
    - Vị trí: Tiền đạo
    - Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia: 23
    - Số bàn thắng: 10
    - CLB: Inter Milan

    * Những câu lạc bộ đã thi đấu:
    1991: Torino
    1992: Pisa
    1993: Ravenna
    1994: Venedig
    1998: Lazio
    Và hiện nay là Inter Milan

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  15. The Following User Says Thank You to cobetocmay For This Useful Post:

    super.cr7 (03-10-2011)

  16. #26
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Marcelo Salas - “Sát thủ” trầm lặng


    Ý tứ và rất rụt rè ngoài đời, vậy mà Salas lại là cầu thủ cực kỳ dũng mãnh, được mệnh danh là “Sát thủ” (Matador) trên sân cỏ ngay từ khi còn rất trẻ. Từ khi bước chân vào cuộc đời cầu thủ chuyên nghiệp (ở CLB Santos quê hương), cho đến khi thực sự nổi danh dưới màu áo đội bóng vĩ đại River Plate (Argentina), Salas luôn coi việc ghi bàn là nhiệm vụ đương nhiên của một tiền đạo.

    “Chỉ có ghi bàn thì đội bóng của bạn mới có thể là người chiến thắng!”. Thế nhưng giai đoạn “cực thịnh” sự nghiệp cầu thủ của Salas lại diễn ra tại một đất nước xa quê hương anh đến hàng vạn ki-lô-mét là Italia - nơi từng có giải đấu được coi là Giải VĐ thế giới thu nhỏ. Chúng ta sẽ đề cập đến những thời điểm quan trọng trong sự nghiệp cầu thủ của chàng trai vàng Chile này cũng như công việc và cuộc sống của anh hiện nay!

    Thời thơ ấu
    Ai cũng biết người dân Nam Mỹ rất sôi động, thích lễ hội và quen động chân động tay ở mọi nơi mọi lúc. Họ có thể hò hét suốt ngày, nhảy múa thâu đêm mà công việc vẫn trôi chảy! Vậy mà ở quê hương của nhà thơ vĩ đại Pablo Neruda vẫn có một người rất ít nói, sống ưu tư và chỉ quen trả lời mọi người bằng… đôi chân và cái đầu! Đó là Marcelo Salas - người có khả năng xử lý trái bóng tròn đẹp như những vần thơ. Điều đáng nói hơn cả là chất lãng mạn đó đi theo anh suốt cả sự nghiệp cầu thủ.

    Sinh ra ở Temuco, một thành phố nhỏ không có nhiều tham vọng ở miền Trung Chile, suốt những năm tháng tuổi thơ Salas gần như chỉ có một người bạn thân duy nhất - trái bóng da được một người thân tặng nhân ngày sinh. Cậu bé dễ dàng “thuần hoá” người bạn hay “dở chứng” đó, tỉ tê tâm sự đêm đêm với trái bóng về những ước mơ của mình: Sớm trở thành cầu thủ nhà nghề để kiếm tiền giúp đỡ bố mẹ. Sáng sáng mỗi khi những đứa bạn cùng trang lứa đang còn chìm trong giấc mộng, cậu đã thực hiện các bài tập “sút cầu môn” hay “thủ môn phá bóng” ở bãi cỏ rộng lớn gần nhà. Ngày chủ nhật, bao giờ cậu cũng là người đến sân tập sớm nhất. Còn ở trường trung học Augusto Winter, thày giáo dạy toán thấy chú chơi trò “pelota” - tức là đá bóng trên bàn viết, ham mê hơn cả những định lý của Pythagore.

    Phải nói rằng niềm ham mê bóng đá của chú bé Marcelinho có nguồn chính từ truyền thống gia đình: Ong bố là tiền đạo lừng danh của đội bóng Santos, còn người chú ruột là Herminio lại là một cầu thủ chạy cánh có tốc độ khủng khiếp!

    Ngày khởi nghiệp ở Nam Mỹ
    Ngay từ năm 1983, khi thi đấu cho đội bóng thiếu niên Santos, Marcelo đã gieo rắc nỗi kinh hoàng cho các hàng phòng ngự đối phương. Vì thế, năm 1987 Marcelo đã lọt vào tầm ngắm của BHL đội bóng quê hương Deportes Temuco đang thi đấu ở giải hạng Hai QG và lập tức được ký hợp đồng. Tuy nhiên, kinh phí eo hẹp của đội bóng này không cho phép họ giữ được những tài năng, hay nói chính xác hơn là họ cần tiền để…lại đi săn lùng những tài năng trẻ khác. Mấy lần đá tập với đội hình dự bị của đội bóng Thủ đô Universidad, tiền đạo nhóc tì này đã làm hàng thủ đối phương chao đảo dù họ là những hậu vệ cao lớn và hiếu thắng. Một lần, ông chủ của đội bóng Thủ đô tình cờ chứng kiến cậu bé ghi 2 bàn thắng không mấy khó khăn, lập tức chỉ đạo cho BHL trả ngay lập tức cho Deportes Temuco 68.856 pesos tiền bồi thường hợp đồng, cấp riêng cho Marcelo tiền lương tháng 30.000 pesos và 5.000 pesos tiền di chuyển. Thế là cậu trở thành thành viên của Universidad - một trong những đội bóng nổi tiếng nhất nước, dù trong tâm tưởng Marcelo luôn nghĩ về…Colo Colo - đội bóng đã từng đoạt Cúp Libertadores!

    Họ và tên đầy đủ: Marcelo José Salas Melinao
    Ngày sinh: 24/12/1974
    Nơi sinh: Temuco
    Quốc tịch: Chile
    Vị trí thi đấu: Tiền đạo
    Chiều cao: 1m73; Cân nặng: 73kg
    Các CLB đã thi đấu: Santos, Temuco, Universidad de Chile, River Plate (Argentina), Lazio (Italia), Juventus (Italia), River Plate (Argentina)
    Số lần khoác áo đội tuyển QG: 62 trận (ghi 34 bàn thắng, kỷ lục quốc gia)
    Thành tích: Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ năm 1997; VĐ Chile năm 1994, 1995; VĐ Argentina 1996, 1997; Siêu Cúp Nam Mỹ năm 1997, VĐ Serie A năm 2000 (Lazio), 2002, 2003 (Juve); Cúp Italia năm 2000, Cúp C2 châu Âu năm 1999, Siêu Cúp châu Âu năm 1999…

    Những trận đấu đầu tiên của Marcelo trong màu áo Universidad diễn ra dưới sự theo dõi của vị HLV đội tuyển QG U16. Chỉ trong một tuần, mọi thứ thay đổi như trong mơ: Từ một cầu thủ hạng “lông” của đường phố, Marcelo trở thành tuyển thủ QG.

    Ngày khởi nghiệp ở Nam Mỹ
    Thế nhưng, cậu vẫn chưa thể nào quen được với cuộc sống xa nhà, và dù có chỗ tạm trú tốt ở nhà người anh em họ nhưng việc thích nghi xem chừng khó khăn. Để ngăn ý định quay trở về quê của cậu, gia đình đã vào cuộc. Cứ cuối tuần, người cha lại lên Santiago, còn mẹ cậu hễ rảnh là đi xe hàng lên thăm. Vậy mà Marcelo vẫn cứ trầm tư, ngược lại với cách hành xử trên sân cỏ dũng mãnh và ghi bàn đều đặn.

    Ngày 2/1/1994, như món quà mừng năm mới, Marcelo được đá trận đấu đầu tiên ở hạng Nhất và ghi được 1 bàn. Sau vài trận nữa, vào ngày 10/4, anh thực hiện được điều mong ước từ lâu làø đoạt chức vô địch trước đối thủ Colo Colo. Hôm đó, sau khi ghi bàn, anh đã ăn mừng theo cung cách của người đấu bò, người hâm mộ lập tức đặt biệt danh cho anh là “El Matador” - tay sát thủ. Năm sau, đội Universidad lại đoạt danh hiệu VĐ lần nữa. Còn Marcelo được gọi vào đội tuyển. Ngày 10/5/1995, trận gặp Argentina, anh ghi bàn gỡ hoà (3-3). ***** nhóc quê ở Temuco ngày nào đã lớn hẳn lên. Đã đến lúc phải nhảy cho xa và chàng trai mang dòng máu người mẹ gốc thổ dân Mapucho chuyển đến River Plate (thực ra thì cậu đã thử sức ở Boca Juniors nhưng các ông chủ của đội bóng này không muốn đầu tư vào một cầu thủ mà họ không thật tin tưởng).

    Chẳng bao lâu sau, với quả sút chân trái khủng khiếp và cảm giác bóng tuyệt hảo trước khung thành đối phương, tên anh được 80 ngàn khán giả liên tục réo gọi sau những bàn thắng. Những bàn thắng có tính quyết định của anh cứ nhiều mãi lên. Tất nhiên là những vinh quang phải đến: 2 danh hiệu vô địch liên tiếp và một Cúp Libertadores (anh ghi 2 bàn thắng trong trận chung kết gặp Sao Paulo-Brazil). Anh nổi danh vượt các biên giới, đâu đâu cũng muốn xem kỳ quan mới xuất hiện, “cầu thủ xuất sắc nhất” Argentina. Trận gặp Bolovia để quyết định một chỗ trong vòng chung kết Cúp thế giới cho đội tuyển Chile, Alex Ferguson của MU đích thân đến thăm cầu thủ quái kiệt với một lời đề nghị đặt giá tới 130 triệu quan Pháp để sẵn trong túi áo. Nhưng ông Rosember coi con mình ngang giá Ronaldo, đòi 180 triệu. Vụ việc kéo dài… thế là người Ý, người Tây Ban Nha lại tràn đầy hy vọng. Đội Lazio rất quan tâm, rồi Juventus, Barcelona, Atletico Madrid bộc lộ sự cảm mến của họ và “khả năng sẵn sàng” trước cầu thủ đã ghi tới 135 bàn (trong đó 16 bàn ghi cho đội tuyển) ngay từ tháng giêng năm 1994. Cuối cùng Lazio đã chính thức trở thành chủ nhân Salas kể từ mùa bóng 1998/99.

    Vốn thẹn thùng và rụt rè, Marcelo chẳng nói gì và thói quen của anh là để đôi chân nói hộ. Những câu nói giản dị, những vần thơ đẹp đầy ấn tượng dưới hình dạng những bàn thắng.

    Chuyên gia nói về anh
    “Nếu Ronaldo mạnh về khoảng cách 30m trước khung thành, thì Marcelo bất khả kháng ở khu vực sút phạt…”, kể từ ngày phát hiện ra “sát thủ”, Jose Pekerman, HLV đội U20 Argentina vô địch thế giới khi đó không ngớt lời khen với cầu thủ được sánh ngang Gerd Muller của thời kỳ mới. Enzo Francescoli, người duy nhất còn vượt nổi Salas trong trái tim cổ động viên của River Plate, đã ca ngợi: “Tôi không nhớ nổi đã lần nào nhìn thấy một bàn thắng của Salas mà trái bóng lại không vào đúng chỗ mà cậu ta quyết định nó phải vào. Cậu ta là một trong những tiền đạo hay nhất trong tương lai không xa!”.

    HLV trưởng đội Chile, ông Nelson Acosta, đã chọn Salas làm đội trưởng thay Zamorano bị chấn thương trong một số trận vòng loại World Cup 1998, cũng nói: “Ngay bây giờ cậu ta đã tỏ ra rất nhanh trong khu vực sút phạt, che bóng bằng cả hai chân và phán đoán đúng kỳ lạ trước bóng bổng”. Salas ghi 11 bàn thắng trong vòng loại World Cup 1998 và hợp cùng Zamorano (12) tạo thành cặp ghi bàn hiệu quả nhất Nam Mỹ, cặp “Za-Sa” hình thành từ ngày 20/7/1997 trong trận thắng Paragoay (2-1) và họ đã trút cơn thịnh nộ lên các đối thủ trên các sân cỏ nước Pháp 1 năm sau đó...

    004 quả là năm vứt đi của tiền đạo lừng danh Marcelo Salas. Thay vì những nụ cười rạng rỡ mỗi khi ghi được bàn thắng, sau đó về nhà nằm khểnh đọc báo hay xem trên tivi hằng hà sa số lời lẽ ca tụng tài nghệ của mình, Salas đã phải giành phần lớn thời gian lui tới bệnh viện. Chấn thương dai dẳng đã làm mất toi của chàng trai 31 tuổi này gần hết mùa giải, giữa lúc đang ở giai đoạn chín muồi nhất trong sự nghiệp.

    Tuy nhiên, chớ quên rằng người đời gọi anh là El Matador. Đúng với cái chất rắn rỏi pha chút ương ngạnh vốn được tìm thấy ở một dũng sỹ đấu bò, ngôi sao ngày nào của Juventus và Lazio rốt cuộc đã đập tan áng mây nghi ngờ về một quyết định “nghỉ hưu non”.

    Nói đúng ra thì chấn thương không chỉ hành hạ Salas có một năm. Trên thực tế anh đã liên tục phải dùng thuốc suốt từ 2002. Đó là nguyên nhân khiến “báu vật” của dân tộc Chile trở thành “đồ phế phẩm” tại giải đấu khắc nghiệt mang tên Serie A, nơi Salas đã gặt hái không ít vinh quang trên đủ loại mặt trận (VĐ Italia, Cúp QG Italia, Cúp C2… ). Đồng thời, chỗ đứng thuộc diện bất khả xâm phạm tại ĐTQG Chile của Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ 1997 cũng theo những bước chân tập tễnh mà lọt vào tay các đồng nghiệp trẻ hơn, sung sức hơn.

    Nhưng nếu bàn về khía cạnh tài năng, Salas vẫn vượt lên trên tất cả. Thật khó để tìm thấy tại La Roja (biệt danh của ĐTQG Chile), từ quá khứ đến hiện tại, một tiền đạo toàn diện như cầu thủ có chiều cao hết sức khiêm tốn này. Salas cao vỏn vẹn 1m74, nhưng bất lợi về hình thể không thể ngăn nổi “chiếc áo số 11” của Chile liên tục ghi các bàn thắng bằng đầu. Pha dứt điểm ngoạn mục vào lưới ĐT Italia tại World Cup ’98 chính là thí dụ điển hình cho khả năng không chiến tuyệt vời của Salas. Ít tháng sau khoảnh khắc đáng nhớ nói trên, đội bóng thủ đô Lazio đã trở thành chốn dung thân của El Matador.

    Dĩ nhiên ngoài cái đầu, cặp giò của Salas cũng đáng giá bạc triệu, bởi chúng có thể sút bóng từ mọi tư thế với độ chuẩn xác làm bàng hoàng các thủ môn. Chẳng thế mà hôm qua, khi Chile đè bẹp Bolivia 3-1 để thắp lại hy vọng giành vé tới Đức, thủ quân Salas đã đi vào lịch sử bóng đá nước này với tư cách Chân sút vĩ đại nhất của mọi thời đại. Với pha lập công ở phút 67, Salas đã có tổng cộng 35 bàn thắng trong màu áo ĐT, nhiều hơn kỷ lục gia cũ Ivan Zamorano, từng là đối tác ăn ý của anh trên hàng công đội bóng áo đỏ, 1 bàn. Có thể khẳng định, 35 chưa phải là cột mốc cuối cùng đối với người đàn ông đầy bản lĩnh và ý chí có tên gọi đầy đủ là Marcelo Jose Salas Melinao, trừ phi chân sút chủ lực của River Plate hiện nay tự mình phá hỏng viễn cảnh đó.


    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  17. #27
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Pavel Nedved - Người tìm lại lịch sử cho bóng đá Đông Âu


    Bóng đá Tiệp Khắc từng sản sinh ra rất nhiều tài năng và đã có thời gian huy hoàng với Chile 1962. Thế nhưng sau khi chia tách...

    ... nước cộng hoà này không còn duy trì được vị trí của mình trên bản đồ túc cầu thế giới, cho đến khi một thế hệ vàng của Czech ra đời. Và hiện thân đỉnh cao nhất của thế hệ vàng đó chính là Pavel Nedved.

    Pavel Nedved sinh ra vào ngày 30 tháng 8 năm 1972 tại Cheb, cộng hoà Czech. Anh là tiền vệ tấn công sáng giá nhất của Czech từ khi nước cộng hoà này cùng với Slovakia tách ra khỏi Tiệp Khắc. Hiện đang chơi cho Juventus, Nedved chính là ngòi nổ kinh hoàng nhất của “bà đầm già thành Turin”. Trước khi đến Juve, anh từng toả sáng trong vai trò người dẫn dắt lối chơi của Lazio từ năm 1996 đến 2001.

    Nedved cũng chính là người dẫn dắt lối chơi của đội tuyển Czech tại Euro 2004. Năm đó, anh cùng với Tomas Rosicky, Thomas Galasek và Vladimir Smicer, những tiền vệ đầy sáng tạo đưa đội tuyển Czech vào đến bán kết và trở thành đội bóng có hàng tiền vệ linh hoạt và đáng sợ nhất tại Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, sự nghiệp quốc tế của Pavel Nedved bắt đầu từ Euro 1996, nơi anh đóng vai trò người dự bị cho thủ lĩnh Karel Poborski. Euro 1996 cũng là một giải đấu đầy thăng hoa của đội tuyển cộng hoà Czech khi họ vào đến trận chung kết và chỉ để thua đội tuyển Đức sau khi Bierhoff ghi bàn thắng vàng. Tại vòng chung kết thế giới sau đó 2 năm, sự thiếu vắng Poborski tại 2 trận đấu đầu tiên đã một phần làm cho Czech không thể vượt qua vòng bảng. Ở cùng bảng đấu tử thần với Đan Mạch, Pháp, Hà Lan nhưng Czech đã thi đấu xuất sắc dưới sự dẫn dắt của Pavel Neded. Cho dù thiếu may mắn để thua trước Pháp và Hà Lan nhưng đội tuyển Czech đã trở thành một trong số những đội bóng được yêu thích nhất. Giải đấu đó đã thực sự khiến Nedved thu hút sự chú ý của các ông lớn Châu Âu cho dù khi ấy anh đã là một ngôi sao ở sân Olimpico.

    Trước khi đến Italia và trở thành một phần lịch sử của các CLB mình khoác áo, Pavel Nedved thi đấu tại quê nhà Czech.

    Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, năm 1992, Nedved chuyển sang thi đấu cho Sparta Prague từ đối thủ của họ là Dukla Prague, khi ấy còn là một đội bóng của quân đội Tiệp Khắc. Tại đây, anh giành cúp Czech và 3 lần liên tiếp vô địch quốc gia các năm ‘93, ’94 và ‘95. Sau những lần ra sân ấn tượng của mình tại Euro ’96, Nedved chuyển đến thi đấu cho Lazio, nơi anh đem đến cho CLB của mình một chuỗi các danh hiệu. Chính từ đây, người ta bắt đầu đặt cho anh danh hiệu “Người đàn ông có bàn tay vàng” theo một câu chuyện cổ Châu Âu, trong đó có một nhân vật chạm vào đâu nơi đó lập tức biến thành vàng.

    Các cổ động viên thành Rome chắc chắn sẽ còn nhắc đến Nedved rất nhiều với những chiến công anh đem lại cho Lazio. Tại đây, anh dẫn dắt hàng tiền vệ đội bóng áo xanh đến chức vô địch cúp các đội đoạt cúp năm 1999 và cú đúp nổi tiếng năm 2000: Scudetto và TIM Cup. Nedved cũng là nhạc trưởng của Lazio đoạt TIM Cup và vào đến trận chung kết UEFA Cup năm 1998.

    Nhưng những thành công anh mang lại cho Lazio chưa phải là đích đến cuối cùng trong sự nghiệp đầy vinh quang của Pavel Nedved. Năm 2001, sau những màn trình diễn xuất sắc tại Euro 2000, Nedved được Juventus mua về với mức giá 64 triệu đô la nhằm thay thế cho Zidane, người chuyển đến Real Madrid trước đó. Tại Delle Alpi, Nedved thậm chí còn làm tốt hơn cả Zidane trong vai trò dẫn dắt lối chơi. Anh đưa Juventus lên đỉnh vinh quang tại Serie A trong 2 mùa liên tiếp khi nâng cao Scudetto năm 2002 và 2003 và đứng thứ 2 năm 2004 trước khi tiếp tục vô địch năm 2005 và nhiều khả năng sẽ là ông vua Italia cả năm 2006.

    Pavel Nedved cũng chính là ngòi nổ đáng sợ nhất của Juventus tại Champions League 2002/2003, khi anh lên đến đỉnh cao sự nghiệp. Đáng tiếc là sau khi ghi bàn đưa Juve vượt qua vòng bán kết, Nedved đã phải chịu án treo giò trong trận đấu cuối cùng. Trên sân Old Trafford, thiếu cầu thủ quan trọng nhất của mình, Juve đã thúc thủ trước AC Milan sau loạt đấu súng trên chấm 11m. Với phong độ rực sáng, Pavel Nedved đoạt danh hiệu quả bóng vàng Châu Âu năm 2003, một sự tưởng thưởng xứng đáng cho những gì cầu thủ Đông Âu xuất sắc nhất sau chiến tranh lạnh làm được cho bóng đá.

    Nổi tiếng với sự kỹ thuật trong xử lý bóng, nhạy bén trong tư duy chiến thuật và lối đá vô cùng mạnh mẽ, Pavel Nedved chính là hiện thân sức mạnh của Juventus và đội tuyển Czech trong suốt thập kỷ qua. Tuy nhiên, anh vẫn mang một điều mong mỏi: đem về cho quê hương một chiếc cúp vô địch sau nhiều lần lỡ hẹn. Và World Cup 2006, World Cup cuối cùng trong sự nghiệp của Pavel Nedved chính là cơ hội để anh cùng với thế hệ vàng của bóng đá cộng hoà Czech hoàn thành ước mơ của mình. Chiếc cúp vô địch thế giới sẽ là phần thưởng xứng đáng trước ngày chia tay của Pavel Nedved, người đàn ông mang dòng máu Đông Âu sôi sục trong tim.


    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  18. #28
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Bãi Tha ma
    Bài gởi
    352
    Points
    92,075.0
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Rep Power
    9
    Hay quá. Đọc không hết được. Có cho post bài này về ko vậy??? Cảm ơn nhiều nha

  19. #29
    Tham gia ngày
    Aug 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Thiên đường ngày xưa
    Bài gởi
    1,450
    Points
    244,495.0
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 4 Posts
    Rep Power
    10
    Thì cái này post cho mọi người cùng xem mà.Nếu không đọc hết thì bạn có thể mua quyển"20 danh thủ bóng đá thế giới" về xem.

    Em có biết giọt nước mắt muộn màng
    Anh đã khóc trên đường xưa năm đó
    Giấc mơ tình yêu giờ trôi cùng mây gió
    Anh biết giờ đây anh đã yêu dại khờ

  20. #30
    Tham gia ngày
    Jul 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Nhà hát của những giấc mơ
    Bài gởi
    5,478
    Points
    1,003,440.0
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    14
    Chà, tinh thần đóng góp cao đây, bài này hay đấy, nhưng chắc phải chép về máy mới đc, đọc trên đây chắc chết

    Ruud Van Nistelrooy

+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts